Tuesday, February 18, 2014

Vẫn là di sản- Chân Huyền

Tiếc thay bài thơ này từ năm 1999, vẫn đúng cho đến bây giờ, cho một đại bộ phận dân tộc. Gông nô lệ sắp rớt xuống mà người mê muội tuổi nghìn vẫn còn "đứng ngóng"... Đau đớn, đau đớn thay. Nếu không có thay đổi lớn, ngay trong tim óc, ví như một cuộc thay máu văn hóa để phục sinh, rồi thì con cháu sẽ nguyền rủa cái thời kỳ ngu độn, mê muội, điên đảo, đá nát vàng phai này.


----

               Vẫn là di sản

                       *

Lúa vẫn không hát tiêng thanh bình 
Bài đồng dao bỏ dở
Những bài học lịch sử
                   như đã khô mùi  nuớc mắt

Nguời ta nghĩ  nhiều, rồi người ta đi tìm những chiếc áo ấm
Nhiều người chen nhau vào quán rượu
Những buổi chiều trên quê hương
            khóc.


Trái tim vỡ vào màu xanh biển
Mảnh chìm ngó mãi hư vô.


Người mê muội tuổi nghìn
Vẫn ngủ quên
Nhai huấn thư rệu rạo
Mơ những giấc mơ tội nghiệp
Óc bó trong ngõ cụt
Tay bó trong di sản
bộ tịch chú lùn.


Camus, Camus,
Sisyphus, Sisyphus
Người ta chẳng bao giờ
        nghe ra
               niềm đau của đá
khi đã tự cắt cánh của mình.

06/99

----

Comment in 2014 :

The absurdity here is much worse than the futile task of Sisyphus in Camus’ essay. The metaphor analogized by Camus, in the case of the “toiling men” in this land of Southeast Asia, hardly  comes close to the reality of wretched politico-socio-economic conditions and the utterly miserable condition of the hearts- and-minds of the men of this land. The absurdity lies in the lies they believe, the cultural stupidities they continue to hold on to, the death of the spirit, and the emptiness of their hearts and minds, after more than 60-years being indoctrinated and being let indoctrinated in Socialism-Communism, and worst, the path and the pseudo charisma-personality of Ho chi Minh.


Điều phi lý ở đây thật kỳ quặc/điên đảo hơn hẳn việc làm hoài công của Sisyphus trong luận văn của Camus. Ẩn dụ Camus đưa ra, trong trường hợp của những người “lao động” ( trí não, chân tay v.v.) ngày đêm ở phần đất này ở ĐNÁ,  không phản ảnh được cái thực trạng chính trị-xã hội-kinh tế thê thảm, tình trạng sa đọa đáng thương của tim và óc họ nơi đất này. Cái phi lý thậm phi lý nằm ở chỗ họ tin những điều (họ bị) dối trá, những cái ngu xuẩn trong văn hóa họ tiếp tục nắm giữ, cái chết trong tinh thần và nỗi hư vô trong tim óc, sau hơn 60 năm bị nhồi sọ, để bị nhồi sọ về chủ nghĩa Xã hội-Cộng sản . Và tệ hơn cà là (tin vào) con đường, vào nhân cách-tính cách cao quý ảo giả trong (con người) Hồ chí Minh.


Tàu răn đe Việt Nam đừng đem vấn đề Biển Đông ra LHQ- Chân Huyền

Bằng chứng bọn khốn kiếp, đê hèn tiếp tục bị bọn bành trướng Trung quốc áp lực, đe nẹt, cảnh cáo đừng làm như Phi Luật Tân, tức đừng đem vấn đề Biển Đông ra LHQuốc để kiện cáo. Giáo sư Carl Thayer thuộc Học Viện Quốc Phòng Úc tiết lộ rằng một số viên chức nhà nước CS cho ông biết về điều răn đe đừng mang vấn đề ra LHQ của Trung cộng, khi Vương Nghị sang thăm VN tháng 9 vừa qua. Một số quan chức khác của đám chóp bu tay sai lại thú nhận : “ Vietnam chắc là sẽ không nối bước Phi Luât Tân trong vụ kiện cáo bởi lẽ VN có những quan hệ thân cận và phức tạp với Tàu, tuy nhiên, VN cũng đã theo sát diễn tiến, kể cả việc bàn thảo với giới chuyên môn về pháp lý ngoại quốc”. (Other Vietnamese officials said while it was unlikely Hanoi would join the case given its close but complex relationship with China, they were scrutinizing developments closely, including talking to foreign legal experts.) Trong khi đó, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Tàu là Hoa Xuân Oánh cũng tiết lộ thêm rằng Tàu và VN đã có những “nhất trí/đồng lòng” (consensus) quan trọng về cách giải quyết tranh chấp Biển Đông (Hua Chunying … said China and Vietnam had reached an "important consensus" over how to resolve the South China Sea dispute.)

Bộ mặt đớn hèn của bọn chóp bu lãnh đạo ngày càng lộ rõ. Vậy, mấy ông còn biết cái nhục của đất nước, cái khiếp nhược, đê hèn của bọn cblđ, mấy ông trí thức/trí ngủ, những kẻ còn biết xót xa cho tình cảnh quê hương thê thảm; sinh viên biết đọc sách, suy nghĩ, nhóm tướng tá còn chút lương tri và hiểu được chuyện gì có thể xảy ra khi đất nước đã lâm vào tình cảnh bị “chiếu bí” nhiều mặt. Nên làm gì, nên làm gì đây, hả mấy ông, để con cháu ngày sau không nguyền rủa ???

CH


---------

Tham khảo

http://www.reuters.com/article/2014/02/13/us-china-vietnam-idUSBREA1C04R20140213

Friday, January 24, 2014

Một Ý Về Thơ

                                          Một Ý Về Thơ

                                                   * *

Đẩy đến tận cùng giới hạn của lý luận về ngữ nghĩa và âm điệu thì không thể nói thế nào là lối làm thơ này hay hơn một kiểu làm thơ khác giữa các tác phẩm, nhất là của những hồn thơ có sự tinh tế và mẫn cảm ở những độ rung gần nhau. Và chỉ gặp một bức tường đá vô ngôn ( không trả lời, không thấy gì nữa) . Mỗi bài thơ là một kinh nghiệm, ở những giai đoạn, tâm cảm, và ngoại cảnh khác nhau, từ đó đòi hỏi những cách thể hiện khác nhau. Cho tiếng nói thơ vút lên, bay vào những biên giới sâu xa nhất— niềm vui của một tài thơ nằm ở đó. Ngay cả điều này, đối với chính tác giả, ở mỗi thời điểm lại cũng thường có thể mang những bộ mặt xúc cảm khác nhau. Mỹ cảm, và ngay cả những hữu thể chân lý, bao giờ cũng được nhận diện và đánh giá bằng một hệ thống hay khung cảnh quy chiếu nào đó để xác định tương đối và mang thời tính giá trị thuyết phục của nó. Khi tâm và cảnh chạm nhau, rung lên thành tiếng thơ, tất cả luân lưu, hoán vị, biến chuyển. kêu gọi, phát âm, mời mọc, rủ rê trong cái khung tâm tư, tình cảm, tư duy, quan niệm; vây quanh cái tập hợp Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, làm thành cái vòng đắm say— như thực, như mộng— nơi đó cuồng phong, bão tố, thác đổ, mưa tuôn, nắng bình nguyên, sương địa đầu và hằng hà tâm sự trên đỉnh núi, cuối vực sâu, hay những cuộc lang thang qua những hành trình về thiên đường, địa ngục; trong sa mạc nơi mặt đất trầm thống, hay một bến mộng chưa ai đặt chân, hành hạ, tâm tình, huyễn dụ, luân vũ với nhà thơ, và làm mẹ cho những bài thơ. Tất cả khối thơ mộng , phiêu bồng, tiêu tao, sầu muộn, bâng khuâng, trầm lắng đó xoay quanh một chỗ không có hình, không có tướng, không có điểm tựa trung tâm. Sao vậy ? Chúng ta đều là những sinh thể được sinh ra trong một quốc độ, trong đó ngôn ngữ và tiếng nói là thứ để chúng ta tìm tới nhau, xác dịnh hiện hữu mình, để bớt cô đơn và an ủi nhau trong đêm-ngày vô thủy, vô chung. Không có cách nào khác. Và sao lại xoay quanh một chỗ không có hình, không có tướng, không điểm tựa trung tâm ?

Vì tất cả đều dựa lên nhau mà tương lập, tương sinh, tương biến, mà rủ chúng ta vào cuộc lang thang, khiêu vũ bất tận; và khi muốn định hình, kiểm tra một thực thể biệt lập nào của ngôn ngữ thơ hay kiến trúc chân lý đều bất khả. Tâm tình, ý tưởng, điển cố, biểu tượng, hình ảnh, thi ảnh, thi pháp, từ cú, âm thanh, giai điệu, kết cấu—và thời gian, vâng, thời gian—tất cả  đều chồng chéo, đan xuyên với nhau trong một liên-cấu nhìều chiều, mà ta có thể tạm dùng một ý nghĩa của liên-cấu không-thời gian (space-time continuum) – con gió phiêu du, hay mạch nước di tràn, lan ngấm trong đất— để khởi đi mường tượng. Tất cả đều không thể tách rời, cũng như không có một hệ quy chiếu nào tự nó có thể tự thành lập, và có ý nghĩa đơn bạch, từ đó có thể cho ta những tiêu chuẩn chung để đánh giá một tư tưởng thơ hay hành tập thơ. Có chăng, đâu đó, ở vùng huyết mạch của những bài thơ, là dấu ấn mờ bụi của những nỗi đời, niềm đau, mạch sầu thiên cổ, hay hoài niệm khôn nguôi.

Tâm Nguyên
Cuối Canh Thìn 2000


Thursday, January 16, 2014

Bức thư cảm động-Repost

Có bức thư cảm động này nói lên cái lòng của người xưa giữ nước, dịch dùm Ts Nguyễn Nhã đã lâu, từ sách “Quá Trình Xác Lập Chủ Quyền Của Việt Nam Tại Quần Đảo Hoàng Sa Và Trường Sa” của ổng. Post lại đây để mọi người đọc cho biết.

                                                                * *


                                "If war happens out there, we will fight the violators earnestly."



Private documents on the islands in the Eastern Sea 

Translation 

“ January 15th, Cảnh Hưng year 36 (1775) (1) 

( Your Excellency) 
My name is Hà Liễu, supervising official of Cù Lao Ré, An Vĩnh village, belonging to the Inner Treasury, Hà Bạc, Bình Sơn precinct, Quảng Ngãi province (2), having the courage to beg the following in your gracefulness and bestowal : 

Originally our village had two groups : Hoàng Sa and Quế Hương; in the year of the Goat (3), Đốc chiến ( Chief soldier) (4) Võ Hệ submitted a request to found two more groups : the Đại Mạo Hải Ba and the Quế Hương Hàm, consisting of 30 men. Their annual tax were 10 thạch ( roughly 50 bushels , or 480 galllons) of tortoises or trionychid turtles, 5 lạng (roughly 150 grams) fragrant cinnamon. By the year of the Cat (5), there was order that villagers in Hà Bạc who possessed red certificate or red application, had to pay tax in a different way, and had to bring in their accounts to show. From then on, we had to increase our population and started villager-soldier programs. By that time the number of soldiers in our village was 23 men; we had to augment the number and paid some more for the toll fees to be able to carry out the orders satisfactorily to date (6). Now we are requesting to establish two groups Hoàng Sa and Quế Hương as previously done in which there will be some outsiders. We will inform you and note in books to submit. We will travel by boats to the islands to collect things, namely items in copper, tin, sea cucumbers, trionychid turtles; all will be submitted to you. If war happens out there, we will fight the violators earnestly. After fightings are over, we will seek order to return to the sea to continue our work and bring items back to submit. You have our words that we will faithfully and dutifully perform our duties without any complaints. Please accept our request and thankfulness. (7) 

(Yours faithfully) 

Decision (8) : Approved 

Notes: 
(1) Cảnh Hưng is the period name of King Lê Hiển Tông (1740-1786) 
(2) Cù Lao Ré area is the common name; its official name is An Vĩnh area 
(3) From 1775 backward, we can count a few years of Tân Mùi ( the Goat) such as 1751 and 1691. Right after that the author mentions the year of Quý Mão (the Cat); the nearest Quý Mão from 1775 is 1723; therefore the Tân Mùi mentioned here can only be either 1691 or 1631. The word “nguyên” (originally) in the first sentence denotes a period before 1691 or 1631; that means the Hoàng Sa group had to be formed before 1691, or even before 1631. 
(4) “Đốc chiến” ( roughly Chief soldier) could very well mean a military rank. 
(5) Year 1723. See note (3) 
(6) The message in this part is not very clear. Summarily it can be understood as : An Vĩnh village originally had two soldier groups : Hoàng Sa and Quế Hương. From 1691 they were added by two more groups: Đại Mạo Hải Ba and Quế Hương Hàm; officially the total the number should be 30 men, but by that year (1723) the existing number was 23 men only; therefore the village had to recruit and augment it to 30 men and paid extra fees to be able to operate satisfactorily up to year 1775. 
(7) The activity of the Hoàng Sa group written in this request basically resembles what was recorded in Lê Quí Đôn’s account in Phủ Biên Tạp Lục (Records of Administering The Frontiers ) written in 1776, a year later. 
(8) Thân : Decision of the upper level. In this case it was “Approved”. 

------------

REF: Bản tiếng Việt và Hoa














Wednesday, January 8, 2014

Tưởng Niệm Trần Văn Bá

Ngưòi con hết sức yêu nước và kiêu hùng này của Tổ quốc-- từ bỏ cuộc đời rất êm ấm, tươi sáng ở nước Pháp cách đây 29 năm-- để về Việt nam chiến đấu, mong giải thoát ách độc tài phi nhân cho đồng bào mình. Ít ra đó cũng là tâm nguyện sáng ngời của lòng anh. Anh vốn là con của dân biểu VNCH Trần Văn Văn.

----

Một bài viết không rõ tác giả :

VỤ ÁN XÉT XỬ KINH KHA - TRẦN VĂN BÁ :
Ông Huỳnh Vĩnh Sanh vừa hô "Việt Nam Cộng Hòa muôn năm" liền bị một cán bộ cộng sản đưa tay bịt miệng
Ngày 08-01-1985, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch bị chế độ cộng sản VN hành quyết. Tên tuổi cả ba vị được ghi vào sử xanh của nước Việt hào hùng. Trần Văn Bá trở thành ngọn đuốc soi sáng con đường tranh đấu cho Tự Do của các thế hệ thanh niên Việt đi sau !
Ngày 14 tháng 12 năm 1984, "Tòa Án Nhân Dân Tối Cao" của chế độ cộng sản tại Việt Nam đã đem ra xử 21 người thuộc Mặt Trận Thống Nhất các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam. Những người này đã bị bắt trong nhiều đợt từ 1981 đến 1984.
Phiên tòa diễn ra ở công trường Lam Sơn tai nhà hát lớn của thành phố Sàigòn và được phóng thanh ra ngoài đường cho một công chúng đông đảo tụ tập lại theo dõi. Các hình ảnh của phiên xử được báo chí ngoại quốc phát ra làm chấn động dư luận thế
giới và gây bàng hoàng trong các cộng đồng người Việt tại hải ngoại.
Sau vài ngày xử ngắn ngủi, từ 14 đến 18 tháng 12, với các luật sư do chính nhà cầm quyền chỉ định, tòa án cộng sản đã tuyên án tử hình 5 người mà chúng nghĩ là chủ chốt
1. Mai Văn Hạnh
2. Trần Văn Bá
3. Lê Quốc Quân
4. Huỳnh Vĩnh Sanh
5. Hồ Thái Bạch
Tráng sĩ Kinh Kha Trần Văn Bá sinh ngày 14-05-1945 tại Sa Đéc, thân phụ là dân biểu VNCH Chống Cộng Quyết Liệt Trần Văn Vân (bị VC ám sát chết). Anh là chủ tịch tổng hội Sinh Viên Việt Nam tại Paris 1972-1973.
Ông Hồ Thái Bạch bị công an dùng dùi cui đánh đập vì ông lên tiếng phản đối các bản án của tòa án cộng sản.
Trong những ngày sau đó, tại khắp nơi trên thế giới, các cộng đồng người Việt cũng như chính giới ngoại quốc đã không ngừng đẩy mạnh những nỗ lực để yêu cầu nhà cầm quyền xét lại vụ xử và hủy bỏ các bản án tử hình.
Tại Paris, môi trường hoạt động tiên khởi của Trần Văn Bá, những cuộc biểu tình phản kháng Hà Nội và vận động cho các kháng chiến quân đã liên tục diễn ra trước sứ quán cộng sản cũng như tại nhiều điểm trong thành phố. Các báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình đưa ra nhiều bài bình luận chê bai chế độ cộng sản Việt Nam, chính giới Pháp và ở nhiều nước Âu Châu đã gởi điện văn can thiệp cho những người bị nạn.
Ngày 3 tháng 1 năm 1985, niềm hy vọng của thế giới tự do được khởi sắc phần nào khi Hà Nội quyết định cải biến các bản án tử hình của hai ông Mai Văn Hạnh và Huỳnh Vĩnh Sanh thành án chung thân.
Thực ra cái được gọi là sự "khoan hồng" này chỉ nhằm mục đích làm giảm bớt áp lực của quốc tế để nhà cầm quyền tiếp tục dự án dã man đã sắp đặt sẵn.
* Diễn tiến vụ án :
Ngày 14 tháng 12 năm 1984, 21 kháng chiến quân thuộc " Mặt Trận Thống Nhất các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam " đã bị "Tòa Án Nhân Dân Tối Cao" của chế độ cộng sản Hà Nội đem ra xử.
Phiên tòa xảy ra tại Nhà Hát lớn Sàigòn tức tòa nhà Hạ Viện cũ của thời Việt Nam Cộng Hòa, một phần của cơ sở còn được biến thành khu vực triển lãm các "chiến lợi phẩm" tịch thu được từ các kháng chiến quân. Nhà cầm quyền còn cho phóng thanh diễn tiến vụ án tại công trường Lam Sơn và hàng ngàn người đã chen chúc nhau ngồi theo dõi.
Trong bản Cáo trạng đọc trước toà, công tố viên Trần Tế cho biết ngay từ đầu tháng 1/81, cơ quan an ninh cộng sản đã phát hiện một "tổ chức gián điệp" xâm nhập vào Việt Nam.
Theo bản buộc tội, ông Lê Quốc Túy là chủ tịch của tổ chức, ông Mai Văn Hạnh là chủ tịch quốc ngoại, các ông Huỳnh Vĩnh Sanh và Hồ Tấn Khoa làm đồng chủ tịch quốc nội. Ông Trần Văn Bá được cử là tham mưu và ông Lê Quốc Quân phụ trách lực lượng vũ trang trong nước.
Mặt khác, Trung Quốc thì bị tố là đã tài trợ mạnh mẽ các hoạt động của "tổ chức gián điệp" và các lực lượng tình báo của Thái Lan và Hoa Kỳ cũng bị cho là đã hợp tác chặt chẽ vào "âm mưu phá hoại".
Tết 1983, lực lượng an ninh cộng sản đã bắt được Hồ Tấn Khoa, Võ Văn Nhơn, Nguyễn Ngọc Hòa thuộc tổ chức "Hòa Giải Quốc Tế" gần với Cao Đài giáo. Những người bị bắt bị nghi là thông đồng với các ông Túy Hạnh để "cướp chính quyền" ở một số tỉnh miền tây. Con trai ông Khoa là Hồ Thái Bạch sau đó thay thế cha trong chức vụ đồng chủ tịch.
Công tố viên cộng sản cho biết có 10 toán gián điệp đã được tung vào trong nước tính từ đầu năm 1981 đến tháng 9 năm 1984. Toán thứ nhất về bằng đường bộ từ tỉnh Trat ở Thái Lan qua Cam Bốt, khi đến Châu Đốc thì bị bắt. Toán này có nhiệm vụ liên lạc với lực lượng của Hòa Hảo để chiếm đóng vùng Bảy Núi. Toán thứ 10 về bằng đường biển hồi đầu tháng 9/84 gồm 21 người trong đó có Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá. Toán này bị bắt ngay khi mới đổ bộ vào bờ biển. Tổng cộng, có tất cả 119 người đã bị bắt giam hoặc giết chết
* Thiếu Tá Công An Nguyễn TẤn Dũng Là Người Chỉ Huy Vây BẮt Vụ Án Này . Sau Đó Được Phong Làm Đại Tá Công An , Hiện Nay là Thủ Tướng Của Bạo Quyền Cộng Sản Việt Nam .
Ông Lê Quốc Túy đáng lẽ cũng đi cùng toán thứ 10 nhưng vì phải vào nhà thương ở Pháp để mổ gấp nên đã thoát nạn. Ngày 27 tháng 12, 1984, ông tổ chức họp báo tại Paris với tư cách là ủy viên đối ngoại của Mặt Trận Thống Nhất các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam. Theo nguyệt san Nhân Bản số tháng 1/01/85 phát hành tại Paris, ông Túy xác nhận một số chiến sĩ của Mặt Trận đã bị bắt từ 1980. Một trận đánh lớn đã xảy ra tại Hà Tiên gây thiệt hại cho khoảng 120 cán binh Việt cộng.
Không ai giúp Mặt Trận cho đến nay, việc Việt cộng cho rằng có Trung Hoa, Thái Lan hay Hoa Kỳ giúp là để phỉ báng cuộc cách mạng. Súng đạn do chính cán bộ cộng sản cung cấp hoặc bán lại. Trong số 21 người bị xử có 2 cựu cán bộ cộng sản.
Mặt Trận không có căn cứ ở ngoại quốc, hoạt động ở Nam và Trung phần và tổ chức đối kháng tiêu cực, không tổ chức đánh lớn. Điểm duy nhất đúng trong bản Cáo trạng của cộng sản là Mặt Trận dự định tổ chức một vụ lớn và mạnh trong năm 1985. Vũ khí dùng để bảo vệ dân chúng, chất nổ nhằm tổ chức phá hoại tại Sài gòn.
Ngay từ phiên xử đầu tiên, nhà cầm quyền cộng sản đã cho thấy các bản án đã được sắp xếp sẵn. Sự hiện diện của các luật sư quốc doanh bên cạnh các bị cáo chỉ là một sắc thái cố hữu của các phiên tòa trong các chế độ cộng sản trên khắp thế giới. Làm sao có thể tin tưởng các luật sư do chế độ chỉ định khi ngay từ đầu những người này đã chấp nhận lời cáo buộc các thân chủ của họ "phản bội lại tổ quốc", "chống phá cách mạng" và cuộc biện hộ của họ chỉ xoay quanh việc xin nhà nước khoan hồng !
Trong các phiên xử, mỗi lần một bị cáo có toan tính đi ra ngoài những lời tự thú đã
bị áp đặt trước là lập tức bị đàn áp . Ông Huỳnh Vĩnh Sanh vừa hô :
_ " Việt Nam Cộng Hoà Muôn Năm "
liền bị một cán bộ cộng sản đưa tay bịt miệng, một cán bộ khác chạy tới còng tay lại ! Ông Hồ Thái Bạch bị công an dùng dùi cui đánh đập vì ông lên tiếng phản đối các bản án của tòa án cộng sản.
Sau 4 ngày diễn ra vụ án bịp bợm, các bản án đã được tuyên đọc trong suốt 2 giờ đồng hồ :
Tử hình : Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Huỳnh Vĩnh Sanh, Hồ Thái Bạch.
Chung thân : Trần Nguyên Hùng, Tô Văn Hườn, Hoàng Đình Mỹ.
Từ 8 đến 20 năm tù : số 13 kháng chiến quân còn lại.
Ghi chú : các hình trong trang này được lấy từ bán nguyệt san Hoa Thịnh Đốn Việt Báo số 1 đến 15 tháng 1 năm 1985.
Danh sách 21 kháng chiến quân bị nạn :
1 - Mai Văn Hạnh
2 - Trần Văn Bá
3 - Lê Quốc Quân
4 - Huỳnh Vĩnh Sanh
5 - Hồ Thái Bạch
6 - Trần Nguyên Hùng
7 - Tô Văn Hườn
8 - Hoàng Đình Mỹ
9 - Thạch Sanh
10 - Nguyễn Văn Trạch
11 - Nguyễn Bình
12 - Nguyễn Văn Hậu
13 - Nhan Văn Lộc
14 - Lý Vinh
15 - Trần Ngọc Ẩn
16 - Cai Văn Hùng
17 - Đặng Bá Lộc
18 - Thái Văn Dư
19 - Trần Văn Phương
20 - Nguyễn Phi Long
21 - Nguyễn Văn Cầm
Anh Hùng Kháng Chiến Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch :
Cả ba đều là thành viên của Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam.
- Trần Văn Bá sinh năm 1945 là cựu chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Paris. Ðã tham gia MTTNCLLYNGPVN của kỹ sư Lê Quốc Túy vào những ngày đầu mới thành lập. Tháng 10/80 giữ chức Thiếu úy và thăng Thiếu Tá tháng 5/84 phụ trách an ninh nội vụ chỉ huy trưởng xâm nhập VN và chỉ huy trưởng mật cứ huấn luyện Tự Thắng. Anh Bá bị bắt tháng 9/1984.
- Lê Quốc Quân sinh năm 1941 là cựu sĩ quan QLVNCH. Chiến hữu Quân đã quy tụ một số cựu quân nhân trốn cải tạo và một số được thả về thành lập tổ chức Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Các Lực Lượng yêu Nước Giải Phóng Việt Nam. Ðã hai lần rời Sài Gòn gặp C/h Hạnh và ông Túy tại trấn Hồ Phòng Minh Hải vào tháng 3/82 và tháng 6/82 để bàn thảo kế hoạch hoạt động. Chương trình hành động gồm :
1/ Lập các tổ cảm tử nhỏ, phân tán ở các đô thị, trang bị gọn, cùng các tổ chức trong lực lượng mới tuyển mộ để phá hoại, ám sát, rải truyền đơn, kách động quần chúng...
2/ Dự kiến đẩy mạnh hoạt động vũ trang ở các vùng rừng núi và nông thôn với sự lôi kéo dân chúng cướp chánh quyền từng khu vực, tiến tới lật đổ chế độ trên toàn VN.
- Hồ Thái Bạch bí danh Anh Cả sinh năm 1926 tại Long An trú quán Tây Ninh, được thay cụ thân sinh là Bảo Ðạo Cao Ðài Hồ Tấn Khoa, giữ chức Ðồng Chủ Tịch đặc trách Cao Ðài quốc nội. Bị bắt tháng 9/84 trên đường đi gặp C/h Mai văn Hạnh từ nước ngoài về.
8 giờ sáng ngày thứ ba 8/1/1985 VC đã đem ba c/h Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch ra pháp trường xữ bắn. Ba c/h không chịu bịt mắt và đã hô lớn trước khi chết
_ " ĐẢ ĐẢO CỘNG SẢN ! VIỆT NAM MUÔN NĂM "
Riêng c/h Mai văn Hạnh nhờ sự can thiệp tích cực của chánh phủ Pháp nên được VC trả tự do và trục xuất sang Pháp.
" Kháng Chiến Thành Bại Thiên Hạ Luận
  Chí Lớn Lòng Son Đáng Anh Hùng "

----

Bài viết của Võ Văn Thiệu trên Vietbao.com 

http://vietbao.com/D_1-2_2-67_4-217998_15-2/


Võ Văn Thiệu: Nhớ Về Các Kỷ Niệm Với Anh Trần Văn Bá Nhân Ngày Giỗ 8 Tháng 1
(01/08/2014) (Xem: 1535)
Tác giả : Võ Văn Thiệu
Võ Văn Thiệu
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, những sinh viên Quốc Gia du học tại Ý Đại Lợi đã thành lập một Liên Hội Sinh Viên Quốc Gia toàn nước Ý mà thành phần chủ chốt là Hội Sinh Viên Yêu Nước tại Milan trong đó tôi là một thành viên tích cực. Bởi vì hiểu rõ chủ nghĩa Cộng Sản (CS) từ lúc ở trong nước, sau khi đến du học tại Ý tôi vẫn không bao giờ lung lay với lý tưởng quốc gia và do đó tôi luôn chống lại các tuyên truyền của CS, kể cả CS Ý, một lực lượng rất hùng hậu của Tây Âu lúc bấy giờ. Tất cả các sinh viên VN du học tại các nước Tây Âu hầu hết đều xuất thân từ Miền Nam, hay đúng ra là do chính phủ VNCH cho đi. Thế mà có nhiều anh “ăn cơm quốc gia thờ ma CS”, một hiện tượng vẫn còn thấy vào lúc nầy trong cộng đồng người Việt. Các cô cậu nầy không hiểu CS là gì, nhất là CSVN. Lớn lên rồi đi học, đa số tại các thành thị miền Nam, họ chưa bao giờ thấy CS hành xử và tráo trở với dân lành Việt Nam đến thế nào. Một lý do khác nữa là giáo dục của gia đình cũng ảnh hưởng đến tư tưởng và thế đứng chính trị cho bản thân mình. Nếu cứ tiếp tục dạy dổ con em chúng ta lo học cho giỏi, kiếm bằng cao chức trọng, làm nhiều tiền, mà quên đi đức dục, ý thức phục vụ tha nhân, cộng đồng và ý thức chính trị của người Việt quốc gia yêu nước, thì không sớm thì muộn các cô cậu sẽ bị lung lay, ru ngủ, và ảnh hưởng bởi tuyên truyền của CS. Có nhiều anh được đi học bổng với tư cách là quốc gia nghĩa tử – nghĩa là cha hay mẹ bị CS sát hại, mà sau nầy chạy theo hoạt động cho tòa đại sứ của CS. Các anh nầy khi bị chúng tôi chỉ trích thì lại quay ra chửi lại cha mẹ mình, cho là cha mẹ tôi theo Mỹ Ngụy thì chết là phải rồi! Nông cạn đến thế thì hết chổ nói.

Trở lại kỷ niệm của Hội Sinh Viên VN Yêu Nước tại Milan vào những năm sau 75. Khi chúng tôi thành lập Hội SVVN và có kèm theo hai chữ Yêu Nước thì bên phía sinh viên thân Cộng nhảy hoảng lên vì hai chữ yêu nước lâu nay do họ “độc quyền” xử dụng. Lúc đó hội gì có chữ yêu nước là thân cộng, hay ngầm ý là của CS. Chúng tôi muốn chứng tỏ là lúc nầy thì chúng tôi mới là sinh viên yêu nước, các anh chỉ là tay sai của tòa đại sứ, một lối nói mà người sinh viên CS ưa dùng để chụp mũ nhóm sinh viên quốc gia chúng tôi. Họ làm tay sai cho CS mà họ nghĩ là họ yêu nước rồi đi ngược lại chụp mũ mình!

Hội SVVN Yêu Nước tại Milan, cũng như các Hội SV Quốc Gia khác trên toàn nước Ý tập hợp lại và thành lập Liên Hội Sinh Viên QG tại Ý. Ngoài các hoạt động tạo đoàn kết cho khối sinh viên QG, vận động dư luận Ý cho một VN tự do, nhân bản và nhất là đi khắp nước Ý, nơi nào có thể được để giải thích cho dân Ý hiểu rõ tình cảnh mới của VN, chúng tôi còn tổ chức các buổi văn nghệ “đấu tranh” nhân dịp Xuân về cho dân chúng Ý xem.

Chúng tôi đã tham gia các đại hội sinh viên QG tại Âu Châu, một lần tổ chức thành công là ở Stuttgard, Tây Đức năm 1977, nếu tôi nhớ không lầm vì nay đã qua 37 năm. Năm đó anh em đến từ Ý của chúng tôi có gặp mặt anh Trần Văn Bá, anh đang hướng dẫn phái đoàn của Tổng Hội SVVN của Paris qua dự.

Sau những giờ nghỉ ngơi và tiếp xúc với anh, anh ?đã khuyến khích chúng tôi đứng ra tổ chức đại hội sinh viên Việt Nam tại Âu Châu năm 1978. Phái đoàn chúng tôi đồng ý trên nguyên tắc và hứa sẽ về trình bày lại cho anh em tại Ý để quyết định.

Trong những giờ rảnh rỗi không bận họp, chúng tôi có dịp tâm sự và trao đổi nhiều vấn đề liên quan đến thời cuộc với Anh. Anh Trần Văn Bá chinh phục cảm tình của chúng tôi ngay từ buổi ban đầu. Anh có tinh thần quốc gia vững vàng và là một người rất giản dị, ăn nói rất đứng đắn và những gì Anh nói ra là những nhận xét rất sắc bén và đáng để cho đám đàn em chúng tôi phải lắng nghe và học hỏi. Tư cách lãnh đạo của Anh thì không có gì chê trách. Tôi biết trước lúc khi gặp Anh, Anh là con của Cố Dân Biểu Trần Văn Văn, một lãnh tụ chính trị đáng kính của VNCH bị CS sát hại.

Tôi có hỏi Anh học hỏi ở đâu mà biết nhiều về chính trị và kinh nghiệm như thế. Anh Bá cười cười nói hồi nhỏ “moi” ở trong nhà hay rót nước cho Ông Già mời khách rồi ngồi nghe các ổng bàn chuyện chính trị rồi “thấm” vào luôn. Sự thật là như vậy. Anh đã học được những gì quý báu từ cha mẹ - đó là sự giáo dục của một gia đình có tinh thần cách mạng, hy sinh cho đại cuộc, hơn là lấy vinh thân phì gia làm mục đính chính cho con cái của mình.

Tất cả chúng tôi, những sinh viên Quốc Gia lúc đó ở Âu Châu có Anh Bá như có một người “cha” che chở, chỉ dẫn cho trong việc tranh đấu cho một Việt Nam tự do, nhân bản, và dân chủ sau ngày 30 tháng 4. Những gì Anh làm cho Tổng Hội SVVN tại Paris sau ngày 30 tháng 4 chúng tôi đều theo dõi và cảm phục tấm lòng của Anh cho đại cuộc.

Anh Bá đã nhận được sự kính mến của tất cả những sinh viên trong các Đại Hội ở Âu Châu. Khi chúng tôi tổ chức Đại Hội Sinh Viên Âu Châu tại Milan, Italy vào tháng Bảy, 1978, Anh đã đích thân hướng dẫn phái đoàn của Tổng Hội Paris qua tham dự. Anh khuyến khích, chỉ dẫn, tác động tinh thần và luôn luôn vui vẻ trong công việc chung. Mỗi khi bàn thảo một vấn đề gì, Anh lắng nghe và cho ý kiến một cách thành thật, và sau đó là ủng hộ hết mình những gì đa số anh em khác đã đồng lòng biểu quyết. Một tinh thần đoàn kết, xây dựng lo cho đại cuộc mà chúng ta thấy thiếu vắng trong hàng ngũ các các người hoạt động chính trị ngày nay. Tôi không nhớ Anh có hút thuốc hay không, nhưng chắc chắn là Anh không nhậu nhẹt nói tầm phào, vô bổ.

Trong dịp đại hội nầy ở Milan, ngoài phái đoàn của Tổng Hội Sinh Viên tại Paris còn có các đại diện của SVVN quốc gia đến từ Pháp (THSVVN Paris, Lyon, Grenoble), Đan Mạch, Đức, Bỉ, Thụy Sĩ.

Trong số các sinh viên đến từ Vương Quốc Bỉ, chúng tôi còn nhớ có Anh Lê Hữu Đào của Liège. Trong một dịp được phỏng vấn bởi đài Đài Á Châu Tự Do (RFA- Radio Free Asia) trước đây anh Lê Hữu Đào tâm sự rằng Anh Trần Văn Bá đã biết chắc một điều là muốn Việt Nam vương lên thì giải thể chế độ CS ở Việt Nam là con đường duy nhất. Thời buổi đó Anh Bá đã có nhận xét đúng đắn và điều nầy vẫn còn có gía trị cho đến ngày hôm nay, gần 40 năm sau khi CS thống trị toàn đất nước. Ngày nào còn chế độ CS ngày ấy dân tộc ta còn lầm than, đất nước còn lạc hậu không tiến xa được. CSVN đã tàn phá biết bao nhiêu giá trị cao quí của con người Việt Nam đã có từ ngàn năm trước khi họ đem chủ nghĩa CS áp đặt lên dân Việt.Họ đã làm lụn bại, phá sản tinh túy của cả một thế hệ con dân Việt mà rồi đây con cháu chúng ta sẽ phải bỏ ra rất nhiều công sức để xây dựng trở lại.

Cũng trong một bài phỏng vấn trên của đài RFA, chị Vũ Thụy, một người đã từng hoạt động với Anh Bá nhiều năm ở Paris, đã nói “ Đối với tôi thì Anh Bá là hình ảnh cụ thể nhất của một nhà cách mạng, nhà ái quốc, dám hy sinh cho lý tưởng...”. Chị còn tâm sự mổi lần chị tổ chức gì mà có lấn cấn, chị nghĩ đến Anh thì mọi việc dường như 99% đều được suông sẻ. Tôi tin điều nầy có thể linh nghiệm được vì biết rằng anh Bá là một nhà yêu nước thật sự, Anh đã về bên kia thế giới hợp quần với tất cả các nhà cách mạng chân chính Việt Nam để phù trợ và đùm bọc cho con cháu nước nhà.

Anh Trần Văn Bá mất đi ngày 8 tháng 1 năm 1985 thọ 40 tuổi. Tin Anh bị CS hành quyết làm cho chúng tôi những người quen biết Anh sững sờ và thương tiếc, dù biết rằng Anh chấp nhận hy sinh cho một nước Việt Nam tự do không CS.

Những nhà cách mạng, anh hùng dân tộc không phải dễ tìm ra. Anh là một trong những vị gần với thế hệ chúng ta, nhất là tuổi trẻ trong giới sinh viên hoc sinh mà anh Trần Văn Bá là một lãnh tụ kính yêu. Biết rằng không thể nào làm việc to lớn như Anh được, nhưng chúng tôi, những người đồng chí hướng với Anh, thầm nghĩ và tự hứa với lòng mình là phải sống sao cho ra con người VN Quốc Gia, giáo dục con cái để cho chúng thành NHÂN, và làm hết khả năng trong hoàn cảnh của mình để không thẹn với ông bà tổ tiên của dòng giống dân Việt.

Võ Văn Thiệu



Photo: VỤ ÁN XÉT XỬ KINH KHA - TRẦN VĂN BÁ :    Ông Huỳnh Vĩnh Sanh vừa hô "Việt Nam Cộng Hòa muôn năm" liền bị một cán bộ cộng sản đưa tay bịt miệng     Ngày 08-01-1985, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch bị chế độ cộng sản VN hành quyết. Tên tuổi cả ba vị được ghi vào sử xanh của nước Việt hào hùng. Trần Văn Bá trở thành ngọn đuốc soi sáng con đường tranh đấu cho Tự Do của các thế hệ thanh niên Việt đi sau !     Ngày 14 tháng 12 năm 1984, "Tòa Án Nhân Dân Tối Cao" của chế độ cộng sản tại Việt Nam đã đem ra xử 21 người thuộc Mặt Trận Thống Nhất các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam. Những người này đã bị bắt trong nhiều đợt từ 1981 đến 1984.     Phiên tòa diễn ra ở công trường Lam Sơn tai nhà hát lớn của thành phố Sàigòn và được phóng thanh ra ngoài đường cho một công chúng đông đảo tụ tập lại theo dõi. Các hình ảnh của phiên xử được báo chí ngoại quốc phát ra làm chấn động dư luận thế  giới và gây bàng hoàng trong các cộng đồng người Việt tại hải ngoại.      Sau vài ngày xử ngắn ngủi, từ 14 đến 18 tháng 12, với các luật sư do chính nhà cầm quyền chỉ định, tòa án cộng sản đã tuyên án tử hình 5 người mà chúng nghĩ là chủ chốt      1. Mai Văn Hạnh      2. Trần Văn Bá      3. Lê Quốc Quân      4. Huỳnh Vĩnh Sanh      5. Hồ Thái Bạch     Tráng sĩ Kinh Kha Trần Văn Bá sinh ngày 14-05-1945 tại Sa Đéc, thân phụ là dân biểu VNCH Chống Cộng Quyết Liệt Trần Văn Vân (bị VC ám sát chết). Anh là chủ tịch tổng hội Sinh Viên Việt Nam tại Paris 1972-1973.      Ông Hồ Thái Bạch bị công an dùng dùi cui đánh đập vì ông lên tiếng phản đối các bản án của tòa án cộng sản.      Trong những ngày sau đó, tại khắp nơi trên thế giới, các cộng đồng người Việt cũng như chính giới ngoại quốc đã không ngừng đẩy mạnh những nỗ lực để yêu cầu nhà cầm quyền xét lại vụ xử và hủy bỏ các bản án tử hình.       Tại Paris, môi trường hoạt động tiên khởi của Trần Văn Bá, những cuộc biểu tình phản kháng Hà Nội và vận động cho các kháng chiến quân đã liên tục diễn ra trước sứ quán cộng sản cũng như tại nhiều điểm trong thành phố. Các báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình đưa ra nhiều bài bình luận chê bai chế độ cộng sản Việt Nam, chính giới Pháp và ở nhiều nước Âu Châu đã gởi điện văn can thiệp cho những người bị nạn.     Ngày 3 tháng 1 năm 1985, niềm hy vọng của thế giới tự do được khởi sắc phần nào khi Hà Nội quyết định cải biến các bản án tử hình của hai ông Mai Văn Hạnh và Huỳnh Vĩnh Sanh thành án chung thân.     Thực ra cái được gọi là sự "khoan hồng" này chỉ nhằm mục đích làm giảm bớt áp lực của quốc tế để nhà cầm quyền tiếp tục dự án dã man đã sắp đặt sẵn.    *  Diễn tiến vụ án :     Ngày 14 tháng 12 năm 1984, 21 kháng chiến quân thuộc " Mặt Trận Thống Nhất các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam " đã bị "Tòa Án Nhân Dân Tối Cao" của chế độ cộng sản Hà Nội đem ra xử.     Phiên tòa xảy ra tại Nhà Hát lớn Sàigòn tức tòa nhà Hạ Viện cũ của thời Việt Nam Cộng Hòa, một phần của cơ sở còn được biến thành khu vực triển lãm các "chiến lợi phẩm" tịch thu được từ các kháng chiến quân. Nhà cầm quyền còn cho phóng thanh diễn tiến vụ án tại công trường Lam Sơn và hàng ngàn người đã chen chúc nhau ngồi theo dõi.    Trong bản Cáo trạng đọc trước toà, công tố viên Trần Tế cho biết ngay từ đầu tháng 1/81, cơ quan an ninh cộng sản đã phát hiện một "tổ chức gián điệp" xâm nhập vào Việt Nam.    Theo bản buộc tội, ông Lê Quốc Túy là chủ tịch của tổ chức, ông Mai Văn Hạnh là chủ tịch quốc ngoại, các ông Huỳnh Vĩnh Sanh và Hồ Tấn Khoa làm đồng chủ tịch quốc nội. Ông Trần Văn Bá được cử là tham mưu và ông Lê Quốc Quân phụ trách lực lượng vũ trang trong nước.       Mặt khác, Trung Quốc thì bị tố là đã tài trợ mạnh mẽ các hoạt động của "tổ chức gián điệp" và các lực lượng tình báo của Thái Lan và Hoa Kỳ cũng bị cho là đã hợp tác chặt chẽ vào "âm mưu phá hoại".        Tết 1983, lực lượng an ninh cộng sản đã bắt được Hồ Tấn Khoa, Võ Văn Nhơn, Nguyễn Ngọc Hòa thuộc tổ chức "Hòa Giải Quốc Tế" gần với Cao Đài giáo. Những người bị bắt bị nghi là thông đồng với các ông Túy Hạnh để "cướp chính quyền" ở một số tỉnh miền tây. Con trai ông Khoa là Hồ Thái Bạch sau đó thay thế cha trong chức vụ đồng chủ tịch.      Công tố viên cộng sản cho biết có 10 toán gián điệp đã được tung vào trong nước tính từ đầu năm 1981 đến tháng 9 năm 1984. Toán thứ nhất về bằng đường bộ từ tỉnh Trat ở Thái Lan qua Cam Bốt, khi đến Châu Đốc thì bị bắt. Toán này có nhiệm vụ liên lạc với lực lượng của Hòa Hảo để chiếm đóng vùng Bảy Núi. Toán thứ 10 về bằng đường biển hồi đầu tháng 9/84 gồm 21 người trong đó có Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá. Toán này bị bắt ngay khi mới đổ bộ vào bờ biển. Tổng cộng, có tất cả 119 người đã bị bắt giam hoặc giết chết    * Thiếu Tá Công An Nguyễn TẤn Dũng Là Người Chỉ Huy Vây BẮt Vụ Án Này . Sau Đó Được Phong Làm Đại Tá Công An , Hiện Nay là Thủ Tướng Của Bạo Quyền Cộng Sản Việt Nam .   Ông Lê Quốc Túy đáng lẽ cũng đi cùng toán thứ 10 nhưng vì phải vào nhà thương ở Pháp để mổ gấp nên đã thoát nạn. Ngày 27 tháng 12, 1984, ông tổ chức họp báo tại Paris với tư cách là ủy viên đối ngoại của Mặt Trận Thống Nhất các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam. Theo nguyệt san Nhân Bản số tháng 1/01/85 phát hành tại Paris, ông Túy xác nhận một số chiến sĩ của Mặt Trận đã bị bắt từ 1980. Một trận đánh lớn đã xảy ra tại Hà Tiên gây thiệt hại cho khoảng 120 cán binh Việt cộng.     Không ai giúp Mặt Trận cho đến nay, việc Việt cộng cho rằng có Trung Hoa, Thái Lan hay Hoa Kỳ giúp là để phỉ báng cuộc cách mạng. Súng đạn do chính cán bộ cộng sản cung cấp hoặc bán lại. Trong số 21 người bị xử có 2 cựu cán bộ cộng sản.       Mặt Trận không có căn cứ ở ngoại quốc, hoạt động ở Nam và Trung phần và tổ chức đối kháng tiêu cực, không tổ chức đánh lớn. Điểm duy nhất đúng trong bản Cáo trạng của cộng sản là Mặt Trận dự định tổ chức một vụ lớn và mạnh trong năm 1985. Vũ khí dùng để bảo vệ dân chúng, chất nổ nhằm tổ chức phá hoại tại Sài gòn.       Ngay từ phiên xử đầu tiên, nhà cầm quyền cộng sản đã cho thấy các bản án đã được sắp xếp sẵn. Sự hiện diện của các luật sư quốc doanh bên cạnh các bị cáo chỉ là một sắc thái cố hữu của các phiên tòa trong các chế độ cộng sản trên khắp thế giới. Làm sao có thể tin tưởng các luật sư do chế độ chỉ định khi ngay từ đầu những người này đã chấp nhận lời cáo buộc các thân chủ của họ "phản bội lại tổ quốc", "chống phá cách mạng" và cuộc biện hộ của họ chỉ xoay quanh việc xin nhà nước khoan hồng !     Trong các phiên xử, mỗi lần một bị cáo có toan tính đi ra ngoài những lời tự thú đã  bị áp đặt trước là lập tức bị đàn áp . Ông Huỳnh Vĩnh Sanh vừa hô :    _ " Việt Nam Cộng Hoà Muôn Năm "     liền bị một cán bộ cộng sản đưa tay bịt miệng, một cán bộ khác chạy tới còng tay lại ! Ông Hồ Thái Bạch bị công an dùng dùi cui đánh đập vì ông lên tiếng phản đối các bản án của tòa án cộng sản.     Sau 4 ngày diễn ra vụ án bịp bợm, các bản án đã được tuyên đọc trong suốt 2 giờ đồng hồ :     Tử hình : Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Huỳnh Vĩnh Sanh, Hồ Thái Bạch.     Chung thân : Trần Nguyên Hùng, Tô Văn Hườn, Hoàng Đình Mỹ.     Từ 8 đến 20 năm tù : số 13 kháng chiến quân còn lại.      Ghi chú : các hình trong trang này được lấy từ bán nguyệt san Hoa Thịnh Đốn Việt Báo số 1 đến 15 tháng 1 năm 1985.     Danh sách 21 kháng chiến quân bị nạn :     1 - Mai Văn Hạnh     2 - Trần Văn Bá    3 - Lê Quốc Quân     4 - Huỳnh Vĩnh Sanh     5 - Hồ Thái Bạch    6 - Trần Nguyên Hùng    7 - Tô Văn Hườn     8 - Hoàng Đình Mỹ      9 - Thạch Sanh     10 - Nguyễn Văn Trạch     11 - Nguyễn Bình     12 - Nguyễn Văn Hậu     13 - Nhan Văn Lộc     14 - Lý Vinh     15 - Trần Ngọc Ẩn     16 - Cai Văn Hùng     17 - Đặng Bá Lộc     18 - Thái Văn Dư     19 - Trần Văn Phương     20 - Nguyễn Phi Long     21 - Nguyễn Văn Cầm      Anh Hùng Kháng Chiến Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch :     Cả ba đều là thành viên của Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam.     - Trần Văn Bá sinh năm 1945 là cựu chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Paris. Ðã tham gia MTTNCLLYNGPVN của kỹ sư Lê Quốc Túy vào những ngày đầu mới thành lập. Tháng 10/80 giữ chức Thiếu úy và thăng Thiếu Tá tháng 5/84 phụ trách an ninh nội vụ chỉ huy trưởng xâm nhập VN và chỉ huy trưởng mật cứ huấn luyện Tự Thắng. Anh Bá bị bắt tháng 9/1984.     - Lê Quốc Quân sinh năm 1941 là cựu sĩ quan QLVNCH. Chiến hữu Quân đã quy tụ một số cựu quân nhân trốn cải tạo và một số được thả về thành lập tổ chức Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Các Lực Lượng yêu Nước Giải Phóng Việt Nam. Ðã hai lần rời Sài Gòn gặp C/h Hạnh và ông Túy tại trấn Hồ Phòng Minh Hải vào tháng 3/82 và tháng 6/82 để bàn thảo kế hoạch hoạt động. Chương trình hành động gồm :     1/ Lập các tổ cảm tử nhỏ, phân tán ở các đô thị, trang bị gọn, cùng các tổ chức trong lực lượng mới tuyển mộ để phá hoại, ám sát, rải truyền đơn, kách động quần chúng...     2/ Dự kiến đẩy mạnh hoạt động vũ trang ở các vùng rừng núi và nông thôn với sự lôi kéo dân chúng cướp chánh quyền từng khu vực, tiến tới lật đổ chế độ trên toàn VN.      - Hồ Thái Bạch bí danh Anh Cả sinh năm 1926 tại Long An trú quán Tây Ninh, được thay cụ thân sinh là Bảo Ðạo Cao Ðài Hồ Tấn Khoa, giữ chức Ðồng Chủ Tịch đặc trách Cao Ðài quốc nội. Bị bắt tháng 9/84 trên đường đi gặp C/h Mai văn Hạnh từ nước ngoài về.     8 giờ sáng ngày thứ ba 8/1/1985 VC đã đem ba c/h Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch ra pháp trường xữ bắn. Ba c/h không chịu bịt mắt và đã hô lớn trước khi chết    _ " ĐẢ ĐẢO CỘNG SẢN ! VIỆT NAM MUÔN NĂM "     Riêng c/h Mai văn Hạnh nhờ sự can thiệp tích cực của chánh phủ Pháp nên được VC trả tự do và trục xuất sang Pháp.                      " Kháng Chiến Thành Bại Thiên Hạ Luận                          Chí Lớn Lòng Son Đáng Anh Hùng "

Monday, December 30, 2013

Cuối năm ghi sổ--một chút


Tại sao chúng ta rơi vào tình trạng nguy nan, suy kiệt thảm thương như ngày nay ?

Tôi nghĩ hoài để tìm hiểu tại sao đồng bào chúng ta đã 38 năm nay ở miền Nam, sau 30 tháng Tư , 1975 và 59 năm sau 20/7/1954 ở miền Bắc, mà vẫn phải cam chịu cái phận oan nghiệt của con sâu cái kiến, rên xiết đớn đau, oằn oại hai thế hệ rồi dưới cái chủ nghĩa kinh tởm đó. Và chợt nhận ra vài sự thực buồn đau vô hạn, đó là sở dĩ nó còn sống lâu như vậy là vì : vừa cố ý , vừa vô tình , vừa bị bịp bợm, vừa tự ý nghe theo (vì nhiều ng/nhân), vừa buông xuôi, và cả “bằng lòng” với nó v.v. , đại bộ phận dân tộc từ trí thức tới phó thuờng dân, đã giúp, đã giữ cho chế độ không bị sụp đổ. Nếu không chắc nó đã bị quật ngã từ lâu rồi, Nhưng nay với tình trạng oan khuất về đất đai ngày càng bi thảm thì chính nông dân rồi cũng sẽ "trắng mắt" ra, hi vọng sẽ có thay đổi như thế nào đó.  Các nguyên do chủ yếu g/thích cho sự  tình này tôi tìm thấy :  khi cha, chú họ theo"cụ Hồ " "mần kách mệnh", tin tưởng  tổ sư xài bạc giả này như một “cha già dân tộc", vào cái đầu chỉ khoán trắng tư duy vào cho Marx, Lenin, hoặc có khi, Mao ( G/D this;  how can people  be that stup..? Sorry, but I can not keep myself from feeling this way), thì con cháu vì tình cảm, vì liên hệ, vì kém suy nghĩ độc lập và đồng thời cũng vì địa vị , và quyền lợi v.v., rất rất nhiều đám gọi là trí thức, nửa- trí thức và nhiều kẻ khác trong mọi thành phần, cũng yên lặng hậu thuẫn hay "ngậm miệng" [ngậm miệng ăn tiền ( lại nhớ Ng Huy Thiệp và thành ngữ xưa) ] cho bọn côn quang cầm quyền hiện tại vùng vẫy đủ trò. Còn cái đám có chút phản biện hay ph/biện cầm chừng cũng chả làm đươc cái trò gì hơn , nếu không thực sự xuống đường với nhiệt tâm và lòng thành cùng dân oan, các người đấu tranh thực sự. Tệ hơn nữa, còn có cái bọn mà  nh/văn Dương Thu Hương goi là đám trí thức với "trái tim chó", thường xuyên sủa theo mệnh lệnh của cấp trên, mỗi khi có sự cố gì

Nhìều người cho rằng một trong những yếu tố ( contributing factor) dẫn tới kết quả chúng ta vẫn chưa thực hiện được một bước nào quan trọng trên con đường tiến đến Tự do, Dân chủ là Dân trí chúng ta thấp. Thật ra, yếu tố này chỉ có ảnh hưởng (rất) nhỏ, trong việc này. Chứng minh điều này cũng dễ  thôi. Người đọc thử  nghĩ xem nhé . Và trong tiến trình xây dựng một nhà nước dân chủ ,vìệc học hỏi và các bước tiến về một nền Dân chủ sâu sắc và khoáng đạt hơn là một tấm bàn đồ có nhiều chỉ dẫn và nghiên cứu kế tục nhau cần suy nghĩ học tập, và phải biết lúc nào mình đang tiến tới đâu, chứ không chỉ mơ hồ viện ra một cái rất chung chung gọi là Dân trí , mà không biết mình đang ở giai đoạn nào trên đường di và những mục tiêu hoặc những bước sắp đến là những bước nào. Đặt quá nặng giá trị lên yếu tố trí thức hay dân trí trong trường hợpnày là lầm lẫn giữa tác dụng hay giá trị của tác nhân ở những trường hợp, giai đoạn cá biệt. Không cần có trí tuệ của HSĩPhu, PhanĐDiệu, hay sự hiểu biết sâu sắc của HoàngMChính, NgThanhGiang , NguyễnKGiang, không cần có tri thức của những kẻ có bằng tiến sĩ, thạc sĩ. Những đầu óc tương tự trong  các ngành sẽ  đ ược dùng đểvạch ra những hướng đi, phương sách, hay trù liệu những chiến lược , kế hoạch cho con đường, thể chế Dân chủ xây những bước vững chắc , trong phầnchuyên môn của họ về kinh tế. chính trị, xã hội hay g/dục. Những ai chỉ có họchết cấp 2 hay cấp 3 bậc trung học  thôi mà chịu tìm hiểu, học hỏi hay đọc sách cũng đều có thể hiểu đại cương về những sai lầm, yếu kém, suy đồi, tuột dốc , suy kiệt của đất nước ở rất nhiều mặt. Bằng chứng đây, Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha , họ còn rất trẻ và mới vừa xong trung học hay bắt đầu đại học. Thậm chí, các em tiểu học cũng hiểu về những khổ đau , gian truân, khốn khó bằng những quan sát tự nhiên và hoàn cảnh gia đình , để hiểu chế độ phi nhân và ngu đần, tàn bạo này đã mang lại cho g/đình, bản thân, người chung quanh và xã hội chúng đang sống những tệ hại, tệ lậu, kém hèn, nhũng nhiễu, dơ bẩn thế nào và muốn dẹp bỏ nó, nếu có thể. Nói tóm, đặt quá nặng tác dụng /giá trị lên yếu tố dân trí để tạo thành cơn bão , tạo thành những sức mạnh quyết định, những “cú đấm thép” để chuyển hóa, thay đổi xã hội,  để xây dựng một thể chế Dân chủ , là một điều sai lầm không nhỏ, và tạo nên một ỳ tính, hay nọa tính làm giảm nhiều sức bật của đấu tranh. Tác nhân chính, như đã nói trước đây, và bây giờ là Tâm nguyện, Ý chí, Ước vọng để được sống làm người Tự do ( Freeman, Homo Liberum ) với Nhân quyền, Phẩm giá làm người của nó, và những hiểu biết cốt lõi là mình, người công dân đã bị từ chối, tước đoạt các quyền làm Người, các Tự do thiết thân và căn cốt nhất. Và cần đứng lên đòi lại.

Trở lại với vấn đề tại sao chúng ta, đất nước chúng ta lại rơi vào tình trạng nguy nan, kiệt quệ và khốn đốn như hôm nay.

Lập lại một chút: Đất nước ở vào tình trạng như bây gìờ là bởi vì gần 40 năm qua, một bô phận lớn của d/tôc— ít nhất là ở miền Bắc (đây không hề có chuyện ph/biêt Bắc Nam, chỉ hoàn toàn là quan sát khách quan, vì chính người viết những dòng này rất ghét sự phân biêt như thế ), vì nhiều nguyên do, đã vô tình hay cố ý để cho tình trạng đất nước xảy ra như thế , tức là không thực sự có nỗ lực, quyết tâm gì để thay đổi nó, nhất là bộ phận trí thức ít nhiều có liên hệ với đảng CS cách này hay cách khác. Ví dụ : Tại sao ông LHiếu Đằng cách đây hợn 20 năm không hành sử được như tướng Trần Độ, Ts NgThanh Giang. Hoặc  tr/hợp  Phạm Chí Dũng , bây giờ cỡ 45 tuổi , thì cáchđây 15 năm, Dũng, có thể không có kiến thức rộng  hơn như bây giờ, nhưng chắc chắn với tuổi 30 và khả năng tiếp thu cao, đã có thể đã có nhận thức rất rõ là xã hội n ày có những tật bệnh rất hiểm nghèo, và nhân dân quanh mình đã phải khổ sở, lầm than, bị đầy ải, đàn áp, đè nén, hành hạ, nhũng nhiễu v.v… thế nào chứ . Làm sao không ?? Thế thì tại sao đến bây giờ anh mới xin ra khỏi đảng ?  Cứ quan sát thật kỹ một chuyện này đã : sẽ thấy cách bọn c/quyền đối phó với biểu tình chống Tàu khựa mấy lần vào năm 2012, thì biết. Ở Hanội, dễ thở và ít bị kềm kẹp hơn Saigon hay trong Nam rất nhiều. Nhưng tình hình bây giờ thì cũng đã có khác ( với mắm tôm chuẩn bị ráo riết cho cả hai miền). Giá như cách đây 25 năm,  tức gần 14 năm sau ngày miền Bắc cưỡng chiếm đươc miền Nam , tức khoảng vào lúc những bài viết của Hà Sĩ Phu ra đời, đủ để “trí thức” suy nghĩ, suy ngẫm, soi lòng cho thật kỹ, thật tinh tường để thấyra,  tỉnh thức, phản biện, phản đối,  phản kháng lại các sự suy kiệt , suy đồi của đất nươc thì đã đỡ nhiều lắm. Giá như lúc đó có nhiều người—  không cần phải có những tâm hồn và óc nhậnxét, phán đoán như nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, ông Hoàng Minh Chính trước đó khálâu— hay sau là Lưu Quang Vũ, Dương Thu Hương, Trần Độ, Trần Xuân Bách, NguyễnKiến Giang . Rồi giá sau đó có thêm nhiều hơn những Nguyễn Thanh Giang, Phan Đình Diệu, Bùi Minh Quốc v.v. (đây chỉ kể những người ở miền Bắc hay có ít nhiều liên hệ với CSVN, không kể những trí thức trong Nam như ĐLHThượng Thích Quảng Độ, Bs Nguyễn Đan Quế, hay Gs Đoàn Viết Hoạt v.v.., và một số khác), ví dụ, khởi đi từ vài ngàn người ( trong đó chỉ cần khoảng 50 cái đầu thực sự có trí tuệ ở các ngành; quan trọng là có những nhà hoạt động, tổ chức giỏi, thấu hiểu cương lĩnh, lập trường, đường lối cũng như nội dung căn cốt của cách mạng ). Nếu đã có vài ngàn người  thực sự có ý thức công dân đối với Tổ quốc cao, hiểu rõ phần nào ý nghĩa triệt để của Dân chủ, Tự do; hiểu rõ hoàn cảnh đang suy thoái rất lớn của đất nườc,và thực sự dám đấu tranh như trên, để xây dựng một diễn đàn như Civic Forum của Tiệp khắc, hay những phong trào tại Ba Lan, Đông Đức, Hung gia Lợi v.v…những năm 1988-1990 để thổi dậy phong trào Dân chủ, đòi quyền làm người, các Nhân quyền, quyền Tự do căn bản thì tình thế đã thay đổi nhiều.


HM

Cuối năm 2013

Friday, December 20, 2013

Một mạch Tâm lý-chính trị người Mỹ ( A Psychico-political * diagnosis of the Americans)

Tại sao người Mỹ lại quan tâm đến VN, và muốn làm điều gì đó tại Việt Nam?

Ngoài các lý do về địa lý-chính trị và ảnh hưởng của mình tạivùng Pacific Rim, người Mỹ còn quan tâm tới VN vì mấy lý do sau đây:

1.  Dù gọi đó là thoái lui hay tháo chạy, một số người Mỹ ( cả giới chính trị cũng như thường dân) vẫn mang một mặc cảm đã “thua”  tại VN, nên trong thâm tâm , nếu một ngày nào đó, người Mỹ có thể làm được một điều gì đó “đủ lớn” để xây dựng nên một “cái gì đó” đủ tầm vóc tại VN , để gỡ lại mặc cảm đã thua nói trên, họ sẽ làm. Tâm lý lạc quan— cái gì cũng có thể làm được khi quyết chí — cộng với “khuynh hướng” tranh thắng hay hiếu thắng, nói một cách tương đối, làm người Mỹ  ache ( nhói , buốt, khó chịu) khi phải chịu thua một cái gì đó, nhất là tại một nước nhỏ như VN. Chưa nói tới con số 58 ngàn người lính Mỹ đã hi sinh tại đây.

2.  Vì vậy nếu có một chính phủ dân cử hợp lòng dân, với những nguyên tắc và quy luật điều hành guồng máy nhà nước phù hợp với các tiêu chuẩn phổ thông thường thấy ở các nền dân chủ hiện đại, người Mỹ sẽ dốc tâm giúp đỡ một chính quyền như vậy kiến tạo, xây dựng từ hạ tầng cơ sở cho tới thượng tầng kiến trúc. Hãy đọc lại xem Mỹ đã giúp Nhật sau Thế chiến II như thế nào, khởi đầu từ tướng Douglas MacArthur, và có những người Nhật đã nhớ ơn tướng MacArthur như thế nào. Dốc tâm như vậy là để “quang phục” lại một ý nghĩa vinh quang đã để thất thoát . Phần khác là để, phần nào,  đền bù lại cho nhân dân VN, hoặc ít nhất là nhân dân miền Nam VN— vì sự thoái lui củamình— mà phải chịu ách cai trị tàn bạo, độc đoán của một chủ nghĩa độc tài, toàn trị , đi ngược lại ý nguyện người dân.

Tâm lý người Mỹ  là tâm lý của những người phát sinh từ một quốc gia Âu châu, muốn được tự do sinh sống, tự do hành động, tự do tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình, tự do sùng bái ( the Protestants), tự do tìm một chân trời mới, thoát cảnh ép buộc, cấm đoán, ức chế, uy hiếp của vua Anh George III. Họ yêu quý, yêu chuộng Tự do như thế, nên chỉ có thể “tìm thấy” nó trong một nhà nước Dân chủ, thực sự dân chủ và phóng khoáng. Để ý, sẽ thấy tại sao mỗi tiểu bang đều có những luật lệ riêng, ngoài những luật lệ chung trong Liên bang là thế. Nhiều người Mỹ ngày nay còn than phiền là guồng máy chính quyền hiện đã trở nên quá khổng lồ, và vì thế đã trở nên có quá nhiều quyền lực ( Uncle Sam has become too powerful), vì thế nhiều khi “hãm chế” , ức chế , đè nén , “tước” đi ( một cách hợp pháp— nhưng ức chế vi diệu, vi diệu— vì có quá nhiều cơ phận, quá nhiều nhân viên, “lực lượng” để có thể "kiểm soát" hành vi, đời sống người dân.

3. Vì yêu Tự do, Dân chủ như thế, nên một chính phủ Mỹ vào một giai đoạn nào mà thân thiết với  một quốc gia, trong đó   thể chế của nó  làm những điều đi ngược lại với lòng dân, ý nguyện dân, ngược lại những nguyên tắc căn bản về Tự do, Dân chủ,  Nhân quyền, thì người dân Mỹ sẽ phản đối rất mạnh. Và dĩ nhiên điều này sẽ được phản ảnh qua lá phiếu. Vì vậy, trong trường hợp nhà cầm quyền VN hiện tại mà không có cải thiện Nhân quyền đúng mức, hay rất đúng mức, thì quan hệ, dù trên một số kết ước hay cam kết ( kín và hở, trên giấy tờ hay trên môi miệng) như hai đối tác chi ến lược toàn diện  giữa hai nước,  cũng sẽ chỉ được tạo dựng trên những mảnh băng mỏng dễ vỡ-- trong một đại dương đầy sóng gió.




       Notes


  • Dĩ nhiên là bài toán quan hệ Việt-M ỹ hiện tại còn có con bài Trung quốc với lượng mậu dịch rất lớn.
  • Ở lâu thì bìết đêm dài : Nhà bình luận nào đã ở Mỹ, làm việc , quan sát và tìm hiểu về họ đều , ít nhiều, hiểu rằng nhà cầm quyền VN hiện tại sở dĩ nghi ngại người Mỹ, sợ Diễn biến Hòa bình ( dĩ nhiên, không cần nói tới bọn chỉ muốn duy trì quyền lợi để “đầy túi tham" ), vì thực sự họ chẳng hiểu gì về người Mỷ cả.
  • Psychico-political : I coined this term myself
  • Dĩ nhiên,  mạch nhảy, bắt ở  trên, là một  mạch nhảy trong các mạch nhảy.
  •  Viết xong bài này, tôi chợt nhớ đến một câu chuyện: Cách đây hơn 25 năm, tình cờ tôi có gặp một vị thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến Hkỳ ( US Marines) trong một khách sạn. Nói chuyện với nhau một lúc, biết tôi từ VN đến, ông kể là ông đã từng tham gia phục vụ ở VN một thời gian, và ông nói với tôi rằng: “ I am sorry. We made a disservice to your country.” [ Xin lỗi , chúng tôi ( ý nói toàn nước Mỹ, chứ không phải nói về những người lính) đã không hoàn thành tốt công cuộc tại nước bạn]. Trong giọng nói ông có một sự bùi ngùi, hối tiếc.Tôi tin lời nói đó phản ảnh tâm trạng phần đông những người lính Mỹ tham chiến tại đất nước chúng ta trước năm 1975. Trước khi rời khách sạn, tôi có gởi lại một lời nhắn chúc ông bình an và cám ơn tâm tình này của ông đối với quê hương mình.