Friday, October 16, 2015

Statue of Hochiminh project in Son La

The stupid, despicable, corrupt, money-devouring guys at top and in Sơn La, North Vietnam, plan to build another statue of Hochiminh, costing 70 million USD, creating a raging uproar of objection in Vietnam. This is happening while many folks were/are dying because of the recent floods in Quang Ninh area without a coffin; many children do not have a school to learn with least decency, many poor people— kids and the elders do not have a penny to come to the hospital when they're sick; many have not just rice to eat. At the same time, other wrongly-accused citizens whose lands were robbed from many cities keep protesting under the rain to demand justice.
This is the objection from this disabled, young woman:
I don't want to see statues everywhere. I want accessibility to public space provided for people with disabilities
Van Thi Nguyen's photo.

Scarborough Fair

Tuyệt

Một phiên bản nguyên tác dân ca Ăng lê. Song ca nam nữ

Male part-
Are you going to Scarborough Fair?
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Remember me to the one who lives there,
For once she was a true love of mine.
Tell her to make me a cambric shirt,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Without any seam or needlework,
Then she shall be a true love of mine.
Tell her to wash it in yonder well,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Where never sprung water or rain ever fell,
And she shall be a true lover of mine.
Tell her to dry it on yonder thorn,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Which never bore blossom since Adam was born,
Then she shall be a true lover of mine.
Female part-
Now he has asked me questions three,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
I hope he'll answer as many for me,
Before he shall be a true lover of mine.
Tell him to buy me an acre of land,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
Between the salt water and the sea sand,
Then he shall be a true lover of mine.
Tell him to plough it with a ram's horn,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
And sow it all over with one pepper corn,
And he shall be a true lover of mine.
Tell him to sheer't with a sickle of leather,
Parsley, sage, rosemary, and thyme;
And bind it up with a peacock's feather,
And he shall be a true lover of mine.
Tell him to thrash it on yonder wall,
Parsley, sage, rosemary, and thyme,
And never let one corn of it fall,
Then he shall be a true lover of mine.
When he has done and finished his work.
Parsley, sage, rosemary, and thyme:
Oh, tell him to come and he'll have his shirt,
And he shall be a true lover of mine.
------

Paul Simon & Art Garfunkel thêm "ý vị" phản chiến
SCARBOROUGH FAIR/CANTICLE
(Simon & Garfunkel)
Paul Simon & Art Garfunkel - 1968
Nana Mouskouri

Are you going to Scarborough Fair?
Parsley, sage, rosemary & thyme
Remember me to one who lives there
She once was a true love of mine
Tell her to make me a cambric shirt
(On the side of a hill in the deep forest green)
Parsley, sage, rosemary & thyme
(Tracing a sparrow on snow-crested ground)
Without no seams nor needlework
(Blankets and bedclothes a child of the mountains)
Then she'll be a true love of mine
(Sleeps unaware of the clarion call)
Tell her to find me an acre of land
(On the side of a hill, a sprinkling of leaves)
Parsley, sage, rosemary, & thyme
(Washed is the ground with so many tears)
Between the salt water and the sea strand
(A soldier cleans and polishes a gun)
Then she'll be a true love of mine
Tell her to reap it in a sickle of leather
(War bellows, blazing in scarlet battalions)
Parsley, sage, rosemary & thyme
(Generals order their soldiers to kill)
And to gather it all in a bunch of heather
(And to fight for a cause they've long ago forgotten)
Then she'll be a true love of mine
Are you going to Scarborough Fair?
Parsley, sage, rosemary & thyme
Remember me to one who lives there
She once was a true love of mine.
---

P. Delanoe, dựa trên bản của Simon-Garfunkel dịch sang tiếng Pháp, bỏ phần phản chiến, thêm phần "thương nhớ quê nhà". Và Phạm Duy dịch theo bản của Delanoe, chuyển chevrefeuille (honeysuckle ) thành thiên lý rất ý nghĩa.
CHÈVREFEUILLE QUE TU ES LOIN
(Trad. - Arrgt P. Simon, A. Garfunkel / P. Delanoë)
Nana Mouskouri

Pauvre garçon qui pense au pays
Chèvrefeuille que tu es loin
Pauvre garçon que l'amour oublie
Un peu plus à chaque matin
Veux-tu ma belle tailler pour moi
Chèvrefeuille que tu es loin
Une chemise dans les draps
Où naguère nous dormions si bien
Veux-tu me trouver un arpent de terre
Chèvrefeuille que tu es loin
Tout près de l'église au bord de la mer
Pour chanter mon dernier refrain
Maintenant je sais que c'est la fin du soleil
Chèvrefeuille que tu es loin
Et je voudrais que ce soit toi ma belle
Qui m'enterre de tes propres mains
Pauvre garçon qui pense au pays
Chèvrefeuille que tu es loin
Pauvre garçon que l'amour oublie
Un peu plus à chaque matin

----

Sources

https://www.youtube.com/watch?v=-BakWVXHSug&list=RD-BakWVXHSug
https://www.youtube.com/watch?v=45HTnEY6vio
https://www.youtube.com/watch?v=oIf2girEeO0


Loving Socrates—

                                                             * *

In the last year of high school, I “met” Socrates, and loved the way he used the midwife term to describe his method of guiding Athens’ youth to clarify the problem of meaning, of definition, of “first lessons” to “the exact”, to “logical investigations”. Years and years later, I still "love" him for saying this:

“My art of midwifery is in general like theirs [real midwives]; the only difference is that my patients are men, not women, and my concern is not with the body but with the soul that is in travail of birth. And the highest point of my art is the power to prove by every test whether the offspring of a young man's thought is a false phantom or instinct with life and truth. I am so far like the midwife that I cannot myself give birth to wisdom, and the common reproach is true, that, though I question others, I can myself bring nothing to light because there is no wisdom in me. The reason is this. Heaven (Jowett: "the god") constrains me to serve as a midwife, but has debarred me from giving birth. So of myself I have no sort of wisdom, nor has any discovery ever been born to me as the child of my soul. Those who frequent my company at first appear, some of them, quite unintelligent, but, as we go further with our discussions, all who are favored by heaven make progress at a rate that seems surprising to others as well as to themselves, although it is clear that they have never learned anything from me. The many admirable truths they bring to birth have been discovered by themselves from within. But the delivery is heaven's work and mine.”
One great soul, one “giant” of a man, and we may lift our hats and whisper to ourselves, “ the conscience and integrity of Athens", when learning of how he refused to escape death and took the hemlock. Philosophy had engaged with life, and become life there. Not only to realize truths.

Now, reading again the below quote from him, as very much close to what Plato said in Apology :
" I know that I know nothing (absolutely/with “extreme” certainty/correctness- CH added words in parentheses) "
It appears convincingly to me that with the problems he thought about, there were things to him, at least, (very ) hard to comprehend/understand thoroughly, completely, or things which “proved” that approaches to their solutions did not work well, or simply : could not be known. I believe, precisely for that reason that he uttered that famous statement.

What a ”soul”, a genuine, phenomenal truth seeker !
----
Socrates regularly used two metaphors to describe what he considered his life-work to be. One metaphor was that of the gadfly, the horsefly that stings the intellectually and morally sluggish citizens of Athens with his questioning. "For Athens is a great and noble steed that is tardy in its motions…
PHILOSOPHYCOURSE.INFO

Tên chột

Tên chột TXSV ( thua xa súc vật), bán đứng mạng sống binh sĩ ở Gạc Ma




https://www.youtube.com/watch?v=84lNFfQrCVU&feature=youtu.be



Bài Ca Gởi Gió Tây- Percy B. Shelley


Dịch  tặng Gió Lớn, Cuồng  phong, những ngọn gió gây bão ngày mai




* *
 
Ôi hỡi, Gió Tây cuồng nộ, hơi thở mùa Xuân
Người không thấy mặt, cuốn lôi lá chết 
Mộ địa hoang tàn, về chốn thênh thang

Vàng, đen, sầu úa, đỏ thẫm cuống cuồng
Hỗn độn héo, bệnh : Ôi Tây phong,
Vững cương mau, đưa chúng về đêm đông đen tối

Kìa hạt mầm tung gió, nằm trong giá lạnh
Như xác, huyệt mộ thảm sầu, chờ đợi gió lên
Ngày Xuân ấm áp, thổi sang đất tốt 

Hỡi Cuồng Phong Thần, tám hướng vần xoay
Kẻ Hủy Diệt và Bào Tồn , hãy nghe (tôi) gọi *


II


Thần mưa, sấm sét, ( đệ tử ngàn tên) 
Mặt xanh tầng không, phóng theo biến hóa 
Tợ tóc sáng lóa thần tiên kiều diễm Maenad
 
Cuốn trong thiên thanh, từ cuối trời xa
Đến tận thiên đình
Những lọn khổng lồ  **


IV
Nếu tôi, lá chết,  vương bên Thần Gió
Nếu tôi mây hoang, bay lướt cùng Người
Hoặc sóng thở gấp kề cận quyền năng, chia

Nhịp tim bỏng rẫy, yếu kém tự do
Này hỡi, Thênh thang vô lượng ! 
Hoa niên tuổi nhỏ, nếu được cùng Ngài

Viễn du khắp trời, rồi vượt qua Người
Chỉ là mộng ảnh; chưa hề gắng đạt trong nguyện

Có ngày : toại ước cùng Người cao bay






Dẫu trong nguyện cầu tha thiết hoài mong
Ôi, hãy nâng tôi, sóng nhỏ, lá con, mây bé
Đã ngã bên đời nhọn hoắt chông gai, chảy máu !



Thời gian đá tảng đã xích xiềng, đè cúi
Kẻ vô cương, hoang dại, tự tung, tự tác tợ Người. 

V


Hãy biến tôi ra đàn lyre thánh thót của Người
Như rừng hoang sơ lá rụng về cội. 
Nhạc Người loạn tạp


Bỗng hóa suối âm dịu êm buồn lắng
Ngọt ngào hương hoa. Hãy biến tôi ngay 
như Người mạnh mẽ. hoạt linh, sinh động 


Xin chóng phục sinh nghĩ tưởng tôi 
Từ lâu chết khô, tựa lá dầu dãi, trong giải thiên hà
Như câu thần chú gởi trong thơ này
 
Bủa rộng bốn phương, từ lò không tắt
Tro bụi, than lửa. Cầu xin lời tôi trong cõi nhân gian
Môi khô cất lời gởi Trần gian đó mộng mị ngủ vùi


Tiếng kèn tiên tri. Ôi hỡi Gió Lớn
Khi Đông đến rồi, Xuân có bao xa ?



Notes:

1.Đây là bài thơ, thi sĩ Anh Percy Shelley, trong trào lưu Lãng Mạn (Romanticism), đầu thế kỷ 19, làm sau khi biết vụ thảm sát Peterloo ở Anh quốc năm 1819. Tình hình nước Anh lúc bấy giờ đang xuống dốc, nhất là kinh tế; quyền được đầu phiếu bị giới hạn. Cộng vào đó là cơ tâm người  ủ men cách mạng, đổi thay lên men dữ dội, và những sự kiện chính trị sau Cách mạng Pháp dồn tới Anh, nên P. Shelley cũng muốn có sự thay đổi tại Anh, và là một trong những người tiên phong. Ông, trong một tỉ lệ nhỏ, muốn được như Gió Tây cực mạnh quét thổi hết cái xấu, cái tàn phai, héo úa, v.v., để mang lại sức sống mới cho xã hội.

2.* Làm nhớ thần Shiva trong Ấn độ giáo ( Brahmanism/ Hinduism)

3.** Trong tưởng tượng của Shelley, Thần Cuồng Phong này có sự giúp sức của nhiềuthiên thần, họ như kết lại những lọn tóc sáng lóa như tóc thần nữ Maenad, biểu tượng của Cao hứng, Say sưa, Mê cuồng, đệ tử của Dionysus ( thần của Rượu vang, Nông nghiệp, say sưa và phóng khoáng) trong thần thoại Hy Lạp. Dĩ nhiên là phải khổng lồ, như thi bản chỉ dấu, dù trong câu thơ không có chữ ấy. Thi sĩ trường phái Lãng Mạn, thường đi đến những chỗ có cảnh sắc thiên nhiên tráng lệ, hùng vĩ, và tưởng đến chúng khi làm thơ.

4. Bài thơ quả tình đã được sáng tác sau khi Shelley chứng kiến một cơn giông bão cuồng nộ tại một khu rừng cạnh sông Arno, Florence, Ý

5. Chỉ dịch một số đoạn. Cố gắng theo nhịp, âm điệu của câu (vần) ( stanza), nhưng vẫn tùy nghi.


-----


Ode to the West Wind

Percy Bysshe Shelley


I
O wild West Wind, thou breath of Autumn’s being,
Thou, from whose unseen presence the leaves dead
Are driven, like ghosts from an enchanter fleeing,
Ôi hỡi, Gió Tây cuồng nộ, hơi thở mùa Xuân

Người không thấy mặt, cuốn lôi lá chết 
mộ địa hoang tàn, về chốn thênh thang
 

Yellow, and black, and pale, and hectic red,
Pestilence-stricken multitudes: O thou,
Who chariotest to their dark wintry bed

Vàng, đen, sầu úa, đỏ thẫm cuống cuồng
Hỗn độn héo, bệnh : Ôi Tây phong,
Vững cương mau, đưa chúng về đêm đông đen tối
The wingèd seeds, where they lie cold and low,

Each like a corpse within its grave, until
Thine azure sister of the Spring shall blow.
Kìa hạt mầm tung gió, nằm trong giá lạnh
Như xác huyệt mộ thảm sầu, chờ đợi gió lên
Ngay Xuân ấm áp, thổi sang đất tốt 
 
Her clarion o’er the dreaming earth, and fill
(Driving sweet buds like flocks to feed in air)
With living hues and odours plain and hill:
 
Wild Spirit, which art moving everywhere;
Destroyer and Preserver; hear, O hear!
Hỡi Cuồng Phong Thần, tám hướng vần xoay
Kẻ Hủy Diệt và Bảo Tồn *, hãy nghe (tôi) gọi


II
Thou on whose stream, ‘mid the steep sky’s commotion,
Loose clouds like Earth’s decaying leaves are shed,
Shook from the tangled boughs of Heaven and Ocean,
 
Angels of rain and lightning: there are spread
On the blue surface of thine airy surge,
Like the bright hair uplifted from the head
 
Thần mưa, sấm sét, ( đệ tử ngàn tên) 
Mặt xanh tầng không, phóng theo biến hóa 
Tợ tóc sáng lóa thần tiên kiều diễm Maenad
Of some fierce Maenad, even from the dim verge
Of the horizon to the zenith’s height,
The locks of the approaching storm. Thou dirge
Cuốn trong thiên thanh, từ cuối trời xa
Đến tận thiên đình
Những lọn khổng lồ **
 
Of the dying year, to which this closing night
Will be the dome of a vast sepulchre
Vaulted with all thy congregated might
 
Of vapours, from whose solid atmosphere
Black rain, and fire, and hail will burst: O hear!

III

Thou who didst waken from his summer dreams
The blue Mediterranean, where he lay,
Lulled by the coil of his crystalline streams,
 
Beside a pumice isle in Baiae’s bay,
And saw in sleep old palaces and towers
Quivering within the wave’s intenser day,
 
All overgrown with azure moss and flowers
So sweet, the sense faints picturing them! Thou
For whose path the Atlantic’s level powers
 
Cleave themselves into chasms, while far below
The sea-blooms and the oozy woods which wear
The sapless foliage of the ocean, know
 
Thy voice, and suddenly grow grey with fear,
And tremble and despoil themselves: O hear!

IV

If I were a dead leaf thou mightest bear;
If I were a swift cloud to fly with thee;
A wave to pant beneath thy power, and share
Nếu tôi, lá chết,  vương bên Thần Gió
Nếu tôi mây hoang, bay lướt cùng Người
Hoặc sóng thở gấp kề cận quyền năng, chia
 
The impulse of thy strength, only less free
Than thou, O Uncontrollable! If even
I were as in my boyhood, and could be
Nhịp tim bỏng rẫy, yếu kém tự do
Này hỡi, Thênh thang vô lượng ! 
Hoa niên tuổi nhỏ, nếu được cùng Ngài
 
The comrade of thy wanderings over Heaven,
As then, when to outstrip thy skiey speed
Scarce seemed a vision; I would ne’er have striven
Viễn du khắp các tầng trời, rồi vượt qua Người
Chỉ là mộng ảnh; chưa hề gắng đạt trong nguyện
Có ngày : toại ước cùng Người cao bay
 
As thus with thee in prayer in my sore need.
Oh! lift me as a wave, a leaf, a cloud!
I fall upon the thorns of life! I bleed!
Dẫu trong nguyện cầu tha thiết hoài mong
Ôi, hãy nâng tôi, sóng nhỏ, lá con, mây bé
Đã ngã bên đời nhọn hoắt chông gai, chảy máu !
 
A heavy weight of hours has chained and bowed
One too like thee: tameless, and swift, and proud.
Thời gian đá tảng đã xích xiềng, đè cúi
kẻ vô cương, hoang dại, tự tung, tự tác tợ Người. 

V

Make me thy lyre, even as the forest is:
What if my leaves are falling like its own!
The tumult of thy mighty harmonies
Hãy biến tôi ra đàn lyre thánh thót của Người
Như rừng hoang sơ lá rụng về cội. 
Nhạc Người loạn tạp
 
Will take from both a deep, autumnal tone,
Sweet though in sadness. Be thou, Spirit fierce,
My spirit! Be thou me, impetuous one!
Bỗng hóa suối âm dịu êm buồn lắng
Ngọt ngào hương hoa. Hãy biến tôi ngay 
Như Người mạnh mẽ. Hoạt linh, sinh động 
 
Drive my dead thoughts over the universe
Like withered leaves to quicken a new birth!
And, by the incantation of this verse,
Xin chóng phục sinh nghĩ tưởng tôi 
Từ lâu chết khô, tựa lá dầu dãi, trong giải thiên hà
Như thần chú gởi trong câu thơ này
 
Scatter, as from an unextinguished hearth
Ashes and sparks, my words among mankind!
Be through my lips to unawakened Earth
Bủa rộng bốn phương, từ lò không tắt
Tro bụi, than lửa. Cầu xin lời tôi trong cõi nhân gian
Môi khô cất lời gởi Trần gian đó mộng mị ngủ vùi
 
The trumpet of a prophecy! O Wind,
If Winter comes, can Spring be far behind?
Tiếng kèn tiên tri. Ôi hỡi Gió Lớn
Khi Đông đến rồi, Xuân có bao xa ?
*




Cọp Giấy

Chúng nó, ở một số góc độ, chỉ là cọp giấy thôi.
"'Conventional wisdom has it that the China juggernaut is unstoppable and that the world must adjust to the reality of the Asian giant as a—perhaps the—major global power. A mini-industry of “China rise” prognosticators has emerged over the past decade, all painting a picture of a twenty-first-century world in which China is a dominant actor. This belief is understandable and widespread—but wrong."
David Shambaugh

One in many

One in many maps which proves China does not have any rights regarding the Paracels and Spratly islands. Many old maps in Chinese language--not falsely fabricated in recent 10 years or so-- do not have those islands in them
Obviously, the 9-dash-line claim of China is a product of imagination and "force claim" about water territory and Spratly, Paracels islands. Pretty clearly, the Paracels islands were meant to associate , much-likely administratively, with old-days Vietnam kingdom ( the Empire d' Annam)
See sheets 106 and 98 of the Atlas Universel by Philippe Vandermaelen, published in Bruxelles by 1827, from the Library of Princeton University 

Sources

http://paracelspratlyislands.blogspot.com/2008/01/old-map-of-vietnam-paracel-1827.html

http://map.princeton.edu/mapviewer/#/76537373x

http://map.princeton.edu/mapviewer/#/6682x6339

https://www.google.com/search?q=philippe+Vandermaelen+map+on+china&espv=2&biw=1360&bih=667&tbm=isch&tbo=u&source=univ&sa=X&ved=0ahUKEwiJu72M34XLAhVBMGMKHWIyBLoQsAQILw#imgrc=_







Maps which reveal lies—


Administrative maps from the Qing dynasty (1644-1911), especially the Hoàng Dữ Toàn Lãm Đồ ( Huang Yu Quan Lan Tu = 皇與全覽圖 ), published in 1719, and others show the territory of China ends, near parallel 18 at the southernmost, which is the south end of Hainan. Another map called Huang Yu Quan Lan Fen Sheng Tu (皇與全覽分省圖), or The Great Full Provincial Maps (published 1721-1722) have the same feature— meaning China does not have Paracels and Spratly islands and ends in Hainan. US Library of Congress has the Huang Yu Quan Lan Fen Sheng Tu, with 15 maps.
Địa đồ hành chính nhà Thanh, Hoàng Dữ Toàn Lãm Đồ và Hoàng Dữ Toàn Lãm Phân Tỉnh Đồ ( Thư viện Quốc hội Mỹ có) cho thấy đất đai Tàu chấm dứt gần vĩ tuyến 18 ở đảo Hải Nam, hoàn toàn không có Hoàng Sa, Trường Sa trong các bản đồ đó.
---
REF



Covers Zhili, Shengjing, Shandong, Shanxi, Jiangnan, Jiangxi, Zhejiang, Henan, Huguang, Fujian, Guangdong, Guangxi, Sichuan, Yunan, Guizhou. Pen-and-ink and watercolor. Prime meridian: Beijing. Available also through the Library of Congress…
LOC.GOV




Notes:

1. Trong bài bằng tiếng Việt của tác giả Vũ Quang Việt, ông lầm năm xuất bản lá 1717, đúng là 1719, tức Khang Hi năm 58 

2. BNG Chính phủ Mỹ đã xem đường lưỡi bò 9 đoạn của khựa là “lếu láo”, vô pháp, vô quy trước luật quốc tế từ 12/15/2014 rồi

"The State Department study’s finding that the nine-dash line as expression of the outer limit of China’s maritime boundary is inc
onsistent with international law, is irreproachable. In the course of maritime delimitation cases, international tribunals have been disinclined, as a general principle, to weigh in on the precise status of small insular features. They have nevertheless tended to strike down the entitlements of far-removed islands/rocks that reach deep into an adjacent or opposite state’s coastal projection – as the Spratlys appear to do – and impose an inequitable ‘cut-off’ effect of that latter state’s maritime entitlement. A LOS-compliant maritime boundary drawn by Beijing should under no circumstance exceed the median line from each insular formation that it administers in the South China Sea. The nine-dash line fails this test and as a national boundary would be inconsistent with international law.”
Sourabh Gupta-CSIS


http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/ban-do-cua-trung-quoc-khong-co-hoang-sa-truong-sa-20150511112006342.htm


Friday, July 24, 2015

Vô ngôn độc đối...


Vô ngôn độc đối đình tiền trúc

Sương tuyết tiêu thời hợp hóa long.

Nguyễn Du



無言獨對庭前竹 

霜雪消時合化龍

阮攸

NGU

*

Để giữ Từ bi, và một cách thế hòa ái, bài dưới đây chỉ xuất hiện một lần duy nhất trên 1 diễn đàn Phật giáo 11 năm trước. Hôm nay đăng lại ở đây , chỉ để tham khảo, và vì có một phần nào liên hệ với bài hôm qua. Nhưng cũng như một cảnh giác.

---

Đối với môt số căn tánh, và đặc biệt là căn tánh, cơ địa, tâm địa nguời Tàu, Tổ sư thiền cũng có thể có diệu dụng, và môt ít thiền sư khá như Mã Tổ Đạo Nhất, Nam Tuyền Phổ Nguyện, Triệu Châu, Huệ Năng, Bá Trượng Hoài Hải, (ở đây không đề câp đến Bồ đề Đạt ma, vốn là môt tâm thức bạt tụy) , ngoài ra đa số có môt cách dạy khá NGU , "õng a, õng ẹo", mù mù, ẩn ẩn, và dễ gây hiểu lầm cho những kẻ sơ cơ, tìm học đạo.  Khẩu đầu thiền , U mông thiền , Lạc lộ thiền, như một cách cảm nhận/nhân xét qua một số nét biểu trưng,  ở Tàu  xưa là môt phần kêt quả của phuơng pháp này.  Ở đây cần mở ngoặc để nói cho rõ: nguời viết kính trọng đuờng lối dạy thiền của HT Thanh Từ, th/sư Nhât Hạnh vì cách dạy của hai vị cũng rât khác cách nguòi viết cảm nhân được từ những ngữ lục, truyền đăng, hành trạng và sách vở dạy thiền, viết về thiền của mấy thiền sư Trung quốc. 

May mà các thiền sư Viêt ngày xưa , và cả ngày nay dù dạy Thiền, (hay Tịnh), nhưng vẫn chưa hề có ý xem thuờng Giáo (tông) và kinh điển như mấy ông Tàu đã quá quá đà trong viêc sử dung câu "Giáo ngoại biệt truyền/Bất lập văntự". Việc vẫn thường xuyên đọc kinh(để tiếp thu từ kinh) cũng là nhận xét của th/s Nhất Hạnh trong 1 cuốn sách của ông. Đó là lý do có thể thấy xuất hiên môt thứ thiền Bái sám, như có thể quan sát trong cách "hành Thiền", tu Đạo của 1 thiền sư lỗi lạc của VN : ngài Trần Thái Tông. Và cũng vì "linh động" như thế nên có thể nảy sinh ra "Thiền" Niệm Quan Thế Âm Bồ Tát như từng thấy thực hành rông rãi hơn trong quần chúng Phât tử , chứ không cần phải ôm giữ khư khư "Giáo ngoại biêt truyền" hay" Trực chỉ Chân tâm".

Ngu nhất trong đám Tổ Sư thiền chắc là Vân Môn, kẻ đã nói "Que cứt khô" khi được hỏi Phật là gì

Cần gì phải nói như thế, dù là trong bât cứ cơ tâm, cơ địa, cơ phong vấn đáp nào ?

Chúng ta không thể biết về cơ tâm , cơ địa của người hỏi như thế nào, vì sách không diễn tả, nhưng nói như vậy có chắc gì người nghe đã "ngộ" thêm được gì, dù rằng đó là môt cú đạp cực mạnh, 1 hình thức "shock therapy". Hoàn toàn chẳng có gì bảo đảm cả.

Nhưng nói như thế thì it nhất cũng là rât bất kính với Thế tôn—nguời đã chỉ đuờng cho chính những vị thầy, vị tổ của mình— nhưng lỗi nặng hơn thì có thể là vì chấp— môt hình thức "chấp" rât vi tế— là " Giới, Luât , Tội" đều “không”, theo một cách hiểu về Chân tánh Bát Nhã của Đại Thừa, nên một phút nhanh miệng đã thốt lời "vọng ngữ". Và biết đâu trong phút "nhanh miệng" đó, môt ảo kiến về ngã không phất bay qua tâm thức Vân Môn để tuôn ra lời nọ , dễ vô tình gây ra ý tuởng "coi nhẹ" hình ảnh Đức Thế tôn cho những kẻ "nhẹ dạ" , đầy hiểu lầm ở đời saụ. Cứ thử đọc nhiều kinh sách Đai thừa Ân dộ , xem có bao giờ người Phật tử Đại thừa Ấn nào (ngày xưa) có cái điệu vọng ngữ như Vân Môn không , và hình ảnh Ngài trong tâm hồn họ "vĩ đại" như thế nào. Và như môt nghiêp dĩ của môn phong này, hôm nay tôi vừa đoc xong và biếttrong “nhà Vân Môn”, cái câu ngu ấy sau này đã trở thành một công án để mật miên, miên mật.

Tâm Nguyên ( CH)
2004



Notes:

1. Hôm nay, ngẫm nghĩ lại về bài viết này, chợt thấy thêm : nếu không (hoặc rất ít) tham khảo thêm kinh, luận thì không biết các thiền phái, thiền lâm Tàu hiểu được gì về chân tánh, cốt tủy của đạo Phật ?  Như môt ví dụ để vấn đề thêm sáng hơn chút: trong một cuộc tranh luận để vua Tây tạng Trisong Detsen thẩm tường, luận sư Kamalasila ( Liên Hoa Giới), thuộc phái Trung Quán phối hợp Duy Thức, từ Ấn độ, đã đánh bại thiền sư Tàu Ma ha Diễn. Và từ đó Phật học Tây tạng , theo đường lối của Luận sư Liên Hoa Giới. Ông Ma ha Diễn bị mời ra khỏi vương quốc Tây tạng; sách vở về Đốn ngộ bị thiêu hủy. Và từ đấy khi luận sự, tranh luận về kinh, về luận, các trường phái Phậtgiáo Tây tạng mới dùng phương pháp “ Tranh Luận” ( Debate) để làm rõ giáo nghĩa, quan điểm, chứ không học, thấm nhuần “chánh pháp” bằng cách “ngồi im, nằm im” nhiều ngày nhiều tháng, thậm chí nhiều năm để miên man, miên mật ngậm/ngấm một câu trả lời “không nói gì hết”, thậm chí nhiều khi vô nghĩa, của các thiền sư Tàu, rồi một ngày kia “bừng ngộ”.

Thế nhưng sau này một số sách vở Tàu "lật ngược kêt quả" và nói rằng sư Ma ha Diễn thắng ! (*)

Thiền sư Ma ha Diễn, thuộc giòng Thiền Bắc truyền của thiền sư Thần Tú; tuy vậy giáo pháp của ông, trong lúc tranh luận cũng đề câp và xiển dương “chủ nghĩa” Đốn ngộ, Kiến Tâm, Vô niệm như trường phái của thiền sư Huệ Năng. Điều này chỉ có thể giải thích như một trường hợp “giao lưu văn hóa” cùa Thiền Bắc truyền và Nam truyền Trung hoa.

“ While Moheyantook a subitist approach to enlightenment, his position was weakened when conceding that practices such as the perfection of morality, studying the sutras and teachings of the masters, and cultivating meritorious actions were appropriate.These types of actions were seen as part of the "gradualist" school, and Moheyan held that these were only necessary for those of "dim"facility and "dull" propensity. Those of "sharp" and"keen" facility and propensity do not need these practices, as they have "direct" access to the truth through meditation. This concession to the "gradualists", that not everyone can achieve the highest state of meditation, left Moheyan open to the charge that he had a dualistic approach to practice. To overcome these inconsistencies in his thesis, Moheyan claimed that when one gave up all conceptions, an automatic, all-at-once attainment of virtue resulted. He taught that there was an "internal" practice to gain insight and liberate one-self, and an "external" practice to liberate others upaya, or skillful means). These were seen as two independent practices, a concession to human psychology and scriptural tradition.

Most Tibetan sources state that the debate was decided in Kamasila’s favour (though many Chinese sources claim Moheyan won)[2] and Moheyan was required to leave the country and that all sudden-enlightenment texts were gathered and destroyed by royal decree. This was a pivotal event in the history of Tibetan Buddhism ,which would afterward continue to follow the late Indian model with only minor influence from China.”




2. Thực ra, trong những giây phút tịnh lặng, tịch lặng của thiền định, quán chiếu, tâm-sinh-lý của chúng ta cũng có những sát na, khoảng khắc bừng nở để cảm nhận cực kỳ trong suốt và thẩm thấu sâu xa về một sắc, tướng hay niệm tưởng nào đó, vượt thoát mọi khả năng nắm bắt của ngôn ngữ, khái niệm. Đó là chỗ "đắc địa" cho Thiền tông áp dụng. Tương tự, có những khi Triết gia Socrates đã đứng im hàng nhiều giờ, có khi trong giá lạnh,  trong trầm tư để suy tư về một vấn đề. Ngoài những niệm tưởng trôi qua như một giòng sông trong đầu ông, ắt có lúc, chúng dừng chảy, ngưng tịch, theo một yêu cầu của quán sát, tầm vấn và mang lại " bùng vỡ",  một nhận thức hoàn toàn lạ lùng về "thể tính", "diện mạo" của một vấn đề.


----

REF

http://thientruclam.info/ht-thich-thanh-tu/hoa-vo-uu-tap-7/thien-tong-va-kinh-dien-khong-hai

http://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/giang-kinh/truyen-thong-sinh-dong-cua-thien-tap/dai-thu-trong-vuon-thien-viet-nam/thien-giao-khong-hai?set_language=vi





Sera Monastery in Tibet where monks debate the philosophy of Buddhism using a slap for emphasis.