Tuesday, May 14, 2019

Vài hàng về hai bài thơ của Thầy Tuệ Sỹ

Hai bài thơ này của Thầy Tuệ Sỹ xuất hiện khoảng cuối 1960s hay đầu 1970s. Chúng đánh dấu sự ra đời của cõi thơ Tuệ Sỹ. Thích chúng 40 năm qua; hôm nay viết mấy hàng về chúng.

     
         Không Đề

Này đêm rộng như khe rừng cửa biển 
Hai bàn tay vén lại tóc xa xưa 
Miền đất đó trăng đã gầy vĩnh viễn 
Từ vu vơ bên giấc ngủ mơ hồ 

Một lần định như sao ngàn đã định 
Lại một lần nông nổi vết sa cơ 
Trời vẫn vậy vẫn mây chiều gió tỉnh 
Vẫn một đời nghe kể chuyện không như 

Để sống chết với điêu tàn vờ vĩnh 
Để mắt mù nhìn lại cuối không hư 
Một lần ngại trước thông già cung kỉnh 
Chẳng một lần lầm lỡ không ư? 

Ngày mai nhé ta chờ mi một chuyến 
Hai bàn tay vén lại tóc xa xưa 

Hai câu đầu mở ra cõi của đêm : yên tĩnh, bao la. Và lạ lẫm.

Lạ lẫm : vì có hai bàn tay của “ai” đó : của Mẹ thầy, cô giáo thầy,  của thầy , hay là chính của Đêm.

Và ai vén tóc cho ai ? Mẹ vén tóc cho con, cô vén cho trò; hay thầy tự vén tóc mình { Nguyễn Du đã vén tóc mình bao lần giữa gió Thu, gió Xuân Hồng Lĩnh, và về đêm có thấy tóc mình được vén trong mộng, hay giữa lúc mộng thực giao nhau ? }

Hay Đêm vén tóc cho chính mình giữa gió vi vu, bao la ?

Và giữa “miền đất đó” và tóc xa xưa liên hệ với nhau như thế nào ? Hồi xưa đó ra sao, và khi trăng đã gầy vĩnh viễn thì sao ?

    “Một lần định như sao ngàn đã định
      Lại một lần nông nổi vết sa cơ”

Nhà thơ-nhà thiền của chúng ta đã “định” “làm gì” , hoặc “như thế nào” trong cuộc đời, chốn đạo của mình ? Vâng, như sao ngàn đã định. Nhưng thế nào là như sao ngàn đã định. Chúng ta có thể tùy nghi liên tưng, tưởng nghĩ, nghĩ tuởng hàng chục thứ “định” như thế để tùy tâm quyết nghi, nghi quyết.

Nhưng ngoài các “cái định” manh tính quyết định như thế nào đó, ví dụ như định ở Quảng Hương Già lam ( thời đó), viết sách, đọc giảng kinh, trầm tư, quán chiếu v.v., làm một Thâm Mật Hiền giả , không dính dáng gì với chuyện đời ( thời đó) xôn xao, tranh chấp, còn cái định gì nữa ?

Hay đó liên quan tới một thứ định “bất động”, cứng ngắc của “cái Không” ù lì, cái Không sai lạc, cái Không “chết”; không thể cùng Diệu Hữu giao thoa, giao hòa, cất tiếng vút tầng không cùng hoa Mạn thù sa quan chiêm Hỷ Lạc thiên sau khi “thoát ra” khung đè, Tịch tịch thiên la để như Thiền sư quảng Nghiêm ( 1121-1190) nói :

            “ Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ”

Và mình thấy sai lầm/lầm lẫn trong thứ định “chết”, khô cứng, “đông đá” (“frozen”) “tịch tịch diệt” (夕寂滅  ) đó ?

Ví như sao ngàn, ngàn sao đã định, không thể xoay ngang, trở dọc gì để mang ánh sáng lại cho các phưng khác.

Vì lẽ :

Để sống chết với điêu tàn vờ vĩnh 
Để mắt mù nhìn lại cuối không hư 


và 


Trời vẫn vậy vẫn mây chiều gió tỉnh 

Vẫn một đời nghe kể chuyện không như 

Vì thế là “mắt mù” khi nhìn lại đáy Không hư.

Dưới đáy đó, hẳn là/chắc là/có vẻ như là/rất có thể là  có nhiều điều kỳ lạ, diễm tuyệt, “ảo diệu” vô ngần, nhưng… 


Ở đây ta có thể thấy ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ thiền “giao” nhau. mở cửa cho nhau tiến vào cõi mộng-thực hôn phối. Cái thực của thiền định, một lúc nào đó đi chơi xa xăm về lại làm nền, trải thảm cho mộng mơ cõi thơ bước vào hòa điệu.

Nhưng đấy cũng là cõi mộng xa của một tâm thức khác thêu nắng  cho vườn thơ Tuệ Sỹ

Trở lại, vì “sống chết với điêu tàn vờ vĩnh” và “mắt mù nhìn lại đáy Không hư” nên :

ta lại vén tóc “lên đường “ thôi.




        Ngày mai nhé ta chờ mi một chuyến 
        Hai bàn tay vén lại tóc xa xưa


----



Mười Năm Trong Cuộc Lữ

Ta làm kẻ rong chơi từ hỗn độn
Treo gót hài trên mái tóc vào thu
Ngồi đếm mộng đi qua từng đọt lá
Rủ mi dài trên bến cỏ sương khô

Vì lêu lổng mười năm trời nói mộng
Ôm tình già quên bẵng tuổi hoàng hôn
Một sớm nọ nghe chim buồn đổi giọng
Người thấy ta xô dạt bóng thiên thần

Đất đỏ thắm nên lòng người hớn hở
Đá chưa mòn sao lòng dạ trơ vơ
Thành phố nọ bởi sương mù nắng quái
Nên mười năm quên hết mộng giang hồ



 Bài thơ rất mực dễ thương, thơ mộng cho những hồn đuổi mộng thiên thần. Và kết bằng dấu hỏi ở hai câu cuối : Đìều gì làm có  thể  “ta”, hay làm tác già “quên hết mộng giang hồ” ?

Chân Huyền
May 2019

Monday, May 13, 2019

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923- )

Vào buổi hai mươi tuổi, tại xứ người, tôi mua những tác phẩm in lại của nhà văn DQSỹ về đọc. Gần như toàn bộ, từ bộ Khu Rừng Lau, Dòng Sông Định Mệnh, Người Việt Đáng Yêu, Sầu Mây, Gìn Vàng Giữ Ngọc, Vào Thiền v.v., cho tới Người Vái Tứ Phương sau này. Cũng như tôi đọc toàn bộ các tác phẩm của Nhà văn-nhà Phật học Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng. Đó là hai vị đã khai trí cho tôi hiểu rất rõ về chủ nghĩa cộng sản [ có những khi bằng chính những gì mắt thấy, tai nghe , ví dụ vụ Nhân Văn Giai phẩm, hoặc vụ Bà Cát Hanh Long v,v,] phương thức đấu tranh của họ, các giáo điều của ch/nghĩa này, cũng như những sự man rợ, phi nhân, tàn ác , hung hiểm của những người cộng sản. Bên cạnh là các tác giả ng/quốc khác như: A.Solzhenitsyn, M. Djilas, A/ Koestler, R. Aaron, V. Havel v.v. , ông là một trong số ít nhà văn tiên phong , chống cộng (*) hàng đầu, bên cạnh nhà văn Nghiêm X Hồng, Hoàng Văn Chí, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Nguyễn Mạnh Côn, , Võ Phiến, Nguyễn Viết Khánh, Phan Nhật Nam v.v.

Sau đó mấy năm tôi nghe tin DQS bị Việt cộng bắt lần thứ nhì vào năm 1984. Ông vào tù như "thiền sư thõng tay vào chợ"

Doãn Quốc Sỹ , như thế, đến với tôi như khuôn mặt của uy vũ bất năng khuất; của một người trí thức, người cầm bút chính trực và cương trực, Bên cạnh ông cũng là những nhà văn, nhà báo ở miền Nam tự do từ 1954 về sau cũng rất đáng được kính trọng vì tư cách trí thức, con tim chân thành với đất nước quê hương, sĩ khí của người cầm bút ở miền Nam, nơi Tự do và các giá trị Nhân bản, nhân văn được tôn trọng, gìn giữ; phổ biến và phát huy. Đó là các vị như: Như Phong Lê Văn Tiến, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường, Hoàng Hải Thủy, Phan Nhật Nam v.v.
Ngoài việc viết văn, nhà văn DQSỹ còn là một nhà giáo nghiêm túc, khà kính tại các trường trung học, và đại học ở Sàigòn.

Tôi còn nhớ dăm ba tháng sau khi DQS bị bắt năm 1984 , nhà văn Ng Mộng Giác đã làm một số về ông trên Văn học để nhớ tới ông và các tác phẩm cùng bạn bè người đọc. Và tôi nhớ bác Nghiêm (Xuân Hồng) đã viết đâu đó như sau về Nhà văn :
Nghe nói DQS lúc bị đưa vào tù thì an nhiên , thản nhiên, tự tại, không hề có chút sợ hãi , âu lo.

Viết những hàng ngắn này vể Nhà văn DQS , tôi cũng muốn nói lên lời cảm ơn tới ông , và chúc thọ ông , vì qua những tác phẩm đó, chàng trai rất trẻ như tôi buổi 20 tuổi, hiểu thấu về ch/nghĩa phi nhân này, và những hiểm họa, điêu tàn, tang thương nó có thể mang tới cho một đất nước. Đồng thời để kính tưởng tới bác Nghiêm Xuân Hồng, người tôi đã được học hỏi nhiều về chủ thuyết c/sản trên bình diện tư tưởng, và cũng có một số lần đàm đạo về Phật pháp, và ít chuyện thi văn khi bác còn tại thế.

Note:
* Những người trẻ năm nay khoảng 20-30 tuổi, sinh ở nước ngoài , hay chỉ sống không lâu dưới chế độ c/sản nên tìm hiểm kỹ về ý nghĩa, nội dung quan thiết , căn cội của hai từ "chống cộng" vào các thời 1954-1975, 1975-1995; 1995-2015 để thấy có một số khác biệt. Vào thời nhà văn DQSỹ, Ng Mạnh Côn, NGh X Hồng, Võ Phiến, tức vào thời 1954-1975 được gọi là một nhà văn chống cộng hàng đầu là một vinh dự không nhỏ, vì các lý do sau đây:

1. Đó là một "trí thức" hay văn nghệ sĩ có ý thức cao hay rất cao về sự Phi nhân, Tàn bạo, Chuyên chế của ch/nghĩa c/sản do Marx-Lenin truyền bá
a) Phi nhân: những gì đẹp đẽ, nhân bản trong tâm con người thường bị ch/ngh c/sản lên án hay làm xói mòn, hư hoại. Ví dụ như chủ trương Tam vô : vô gia đình, vô Tổ quốc, vô Tôn giáo. T/ thống Hoa kỳ R. Reagan gọi đó là nhà nước làm thui chột, biến thái, què quật các tính chất tự nhiên của đời sống con người : an aberration of Life; trong đó yếu tính TỰ DO ( và anh em nó là Ước muốn được sống trong một xã hội Dân chủ), lý tưởng thăng hoa lên Chân-Thiện-Mỹ bị lên án hay chà đạp.
b) Tàn bạo : chính sách của những người c/sản là đàn áp, kìm kẹp, tù đày hay thủ tiêu những người không đồng ý với chủ thuyết của họ. Đìèu này quá rõ trong các tr/hợp như với Phạm Quỳnh, Khái Hưng, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm v.v.
c) Chuyên chế : Người c/sản sẽ tiêu diệt tất cả những ai, những lý thuyết, chủ trương, khuynh hướng chính trị nào đi ngược với chủ thuyết của họ bằng một guồng máy vô đạo, toàn trị, không tương nhượng để bắt người dân sống dưới một thể chế hà khắc, bất khoan dung.
Cà ba điều trên đã xảy ra giống y như những gì các nhà văn , nhà trí thức nói trên đã mô tả, trình bày, dự liệu, sau khi c/sản cướp được miền Nam tháng Tư, 1975

2. Vì ý thức rất rõ, nên các trí thức, văn nghệ sĩ nói trên đã viết, viết và viết không ngưng nghỉ, và bằng mọi nỗ lực để cảnh giác, cảnh báo vể sự phi nhân, bạo tàn, hung hiểm của chế độ c/sản đến người dân miền Nam, sau khi họ đã vào đến miền Nam sau 1954. Tôi nhớ rất rõ nhà văn DQSỹ đã muốn "kêu trời" vì sự Ngây thơ của người miền Nam khi họ hỏi ông và bạn bè di cư : Đất nước đã có độc lập, "tự do" ( ý nói thoát ách đô hộ của Pháp) , tại sao các ông không ở ngoài đó hưởng độc lập, tự do mà vô đây "mần" chi , trong một tác phẩm của ông. Phải mất hơn 10 năm (1954-1964), DQS và bạn bè văn nghệ sĩ, trí thức mới cảm thấy người dân miền Nam dần dần hiểu được tại sao những đồng bào mình ở miền Bắc phải "chạy tuốt" vô Nam. Sau phim " Chúng Tôi Muốn Sống", sau "Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc", "Lịch Trình Diễn Tiến Phong Trào Quốc Gia", "Khu Rừng Lau", "ĐEm Tâm Tình Viết Lịch Sử". Và sau "Đường Đi Không đến" (1973)

3. Họ đã góp công chống đỡ, và xây dựng cho ý nghĩa Tự do, cho quốc gia VNCH trong nền dân chủ non trẻ của nó; chống lại một chủ nghĩa phi nhân, độc đoán, chuyên chế, toàn trị; làm hư hoại nhân tính con người.
---

P.S: Tôi thích cả 4 nhân vật Kha, Miên, Lê và Tân trong "Tình Yêu Thánh Hóa " của bác DQSỹ, nhất là Lê vì cá tính nhanh nhẹn, linh động của cô.


Thursday, May 2, 2019

April 30, 1975: All come back this morning... - by Phan Nhật Nam (1)



For young Vietnamese Americans
Translated from the original in Vietnamese ( most of the article)
*
...
...Finally, Tan Son Nhat airbase really struggled, dying, sinking in the fire of hell when the artillery shells and Communist missiles from Dong Du, Cu Chi; Hau Nghia and Gia Dinh boundaries began to fall in without stopping. The 130-mm bullets, 122-mm rockets accurately poured down. Tan Son Nhat struggled, cramped, collapsed, dying in black smoke and flame ... The execution lasted from 1 am on the 29th until dawn.
Morning of April 29: some of the generals had left, the senior officers also had left their posts and units, but Air force Lieutenant Trang Van Thanh remained. He started the C119 Hỏa Long— alone— , flew to the blue sky, trying to protect Tan Son Nhat . From above, seeing clearly the artillery positions of the communist troops, Thành tilted the plane's wings, indignantly pouring down 7.62 mm bullets, and all of the firepower of the two 20-mm cannons under the wings ... Fire erupted down under; the anti-aircraft group of the communists fired back , but did not succeed. Thanh calmly, skillfully sneaked out of the bullets of the enemy.
Thành landed back in the familiar runway, which was now fuming by the enemy's bombs in the previous afternoon, and the heavy bombardment from the midnight to the morning of this tragic day. In calm, utmost quietude Thanh finished reloading the plane, he returned to the sky on Tan Son Nhat airport - the gateway of the South. He looked down at the positions of the Communist artillery that were temporarily suspended because of his attack. It turned out that a whole country could only have this last desperate defense.

Nosing down the plane, tightening the ignition system next to the seat, he took the aiming route alone. He alone. Yes, he by himself - First Lieutenant Trang Van Thanh, from the Boy Cadets. The plane's body shook strongly... Fire! Fire! Fire burned across the left wing of the plane, right at the gas tank, next to the seat. Thanh tugged on the emergency latch to free his body from the plane. All was stuck. He used his hand to push the cockpit's door to release himself, the parachute swung sharply. But the gores, the strings of the parachute were tangled with the door. Thành was trapped and held tightly by the chute and door frame. Flaming fire! Consuming fire! The pilot drowned in the fire, dying in the sky of his motherland.

April 30
From Lam Son Square, starting from Nguyen Hue Street, the crowd gradually gathered to see the faces of the " bộ đội Viet Cong " ( communist troops) . Two more army trucks arrived in front of Rex ( cinema theater ). The communist troops jumped down, rushed to the veranda. They lay, crawled, scrambling. There was the pounding sound from the foreign facilities; the iron gates shook, broke; the glass panels were cracked, the furniture was dragged, hurried on the road. The crowd grew. They were mobbing, shouting. The crowd ran towards Building Brink, the Đồn Đất area, the Grall hospital; places Americans had occupied before and left, offices that the owners had left.
Suddenly, they all settled down to listen clearly. Some people committed suicide. Someone just shot himself. Who? A Soldier. Nobody yet knew; the crowd then only had this info: he was one of our soldiers. Where? Out there by Marine Corps statue. Faintly among the sound made by the chord of the tank chains smashing through the doors of Dinh Độc Lập (Independence Palace), a small bang of the bullet pinned in the head of Lieutenant Colonel of the National Police, Nguyen Van Long, only a few minutes after Duong Van Minh's surrender order .
There was a small platoon of paratroopers which served as a security force for the Bắc Hải officers' quarters. Upon hearing the order of surrender, the platoon leader was fierce: "I don't surrender; I and the platoon will go to the pier to continue fighting." Lieutenant Huynh Van Thái gathered the platoon, lined up, ordered them to move. The platoon of soldiers came out of the quarters by the entrance of To Hien Thanh Street, turned to Nguyen Tri Phuong, went to Tran Quoc Toan Fish Market, then headed to the pier. But the paratroopers of Lieutenant Huynh Van Thái did not come to the Bach Dang wharf. Arriving at Nga Sau Cho Lon roundabout, they formed a circle, pointing their guns to the sky and shouted, "The Republic of Vietnam Forever . I'm dead, oh Father! ”And they tossed the grenades. The grenades continually bursted loudly, after those words to say the last goodbye to South Vietnam.
In Region IV of Cuu Long River Delta, Mrs. Nguyen Thi Thàng, a wife of a local soldier at Giong Trom post, replaced her husband to keep the post to the last grenade. She ended her life next to the bodies of her husband and children, with weapons and transmitters all destroyed. Don’t leave Viet Cong anything! Her husband had told her before his death. By the same time with the suicides of famous generals such as Nguyen Khoa Nam, Le Nguyen Vy, Tran Van Hai, Le Van Hung, Pham Van Phu and Ho Ngoc Can… many people took their lives when South Vietnam collapsed.(2)
Japan is a great nation with a sacrificial ritual, i.e. Seppuku for Samurai (suicidal abdominal gashing) when personal, collective, or national honor is offended. The Vietnamese people do not have such a mighty ritual. However, Vietnamese people also have their own ways of expressing Patriotism, how to preserve human dignity. Vietnamese people use death to testify to that aspiration through silence and simplicity but no less noble.
...
Notes:
  1. Phan Nhật Nam is a famous soldier-writer in the Vietnamese language. Some of his novels, records were translated into English. After 1975, Nam was sent to communist concentration camp for 14 years. It is a ‘miracle’ that he is still alive since the books he had written before 1975 fiercely denounced communism. He finally arrived in the U.S. He was also a paratrooper captain before turning to become a war correspondence some time in the late 1960s
  2. Through the years I have read stories about individual cases in which whole families in South Vietnam committed suicide when the South collapsed in 1975.
----
Original in Vietnamese

30 Tháng Tư, 1975: Tất cả hiện đủ trong buổi sáng hôm nay…

Phan Nhật Nam
April 30, 2019
Sự chết bắt đầu trùm chiếc cánh tối tăm hung hiểm lúc 6 giờ 15 chiều ngày 28 Tháng Tư, 1975, khi chuỗi bom dưới cánh những chiếc A37 do viên phi công phản trắc Nguyễn Thành Trung hướng dẫn rơi xuống phi đạo Tân Sơn Nhất.
Đạn phòng không bắn lên, phi cơ F5 đuổi theo muộn màng, vô vọng. Cửa ngõ tháo chạy của Sài Gòn đóng sập lại. Cuối cùng, Tân Sơn Nhất thật sự vùng vẫy, hấp hối, chìm dần trong lửa hỏa ngục khi dàn đại pháo, hỏa tiễn Cộng Sản từ Đồng Dù, Củ Chi, ranh giới Hậu Nghĩa, Gia Định bắt đầu đổ xuống không ngắt nhịp. Từng trái đạn 130 ly, từng hỏa tiễn 122 ly chính xác rơi xuống. Tân Sơn Nhất vật vã, co quắp, rã chết, sụp vỡ, hấp hối trong khói đen, lửa ngọn… Cuộc hành hình kéo dài từ 1 giờ sáng ngày 29 tiếp tục đến rạng đông.
Sáng 29 Tháng Tư, những tướng lãnh đã ra đi, những sĩ quan cao cấp cũng rời bỏ nhiệm sở, đơn vị, nhưng, Trung Úy Phi Công Trang Văn Thành còn lại. Thành có biệt hiệu “Thành Mọi,” bởi nước da ngăm đen, quá độ ra chỗ đậu tàu. Anh nổ máy chiếc C119 Hỏa Long, đơn độc bay lên trời xanh bảo vệ, cứu viện Tân Sơn Nhất.
Từ trên cao, thấy rõ những vị trí pháo của binh đội Cộng Sản. Thành nghiêng cánh, chúc mũi chiếc Hỏa Long căm phẫn trút xuống tràng đạn 7.62 ly, và tất cả hỏa lực cơ hữu của hai khẩu đại bác 20 ly gắn dưới cánh… Lửa nháng lên dưới thân tàu, toán phòng không Cộng Sản phản pháo, nhưng không kịp, Thành bình tĩnh, tài giỏi lách ra khỏi vùng hỏa tập lưới đạn của giặc.
Thành đáp xuống lại phi đạo thân yêu quen thuộc đang bốc khói mịt mù bởi cuộc dội bom chiều hôm, và cuộc pháo kích cường tập từ sau nửa đêm về sáng của ngày đau thương tang tóc này. Mặc, Thành tự tay nạp đạn vào tàu, anh trở lại bầu trời trên phi cảng Tân Sơn Nhất – cửa ngõ của miền Nam. Anh nhìn xuống những vị trí pháo Cộng Sản mà giờ này tạm ngưng hoạt động vì vừa bị anh tấn công. Hóa ra cả một quốc gia chỉ còn được lần cứu viện bi hùng tuyệt vọng này.
...

April's Nights- poem by Trần Mộng Tú



Oh my dear, waking up in the middle of the night
I fell face-down into April
I , April— both wounded—
Tried the healing hands vice versa

I’ve gone so far
More than 40 years in sun-moon’s paces
My feet, so familiar now with the grass here
still a strange circling persists
the cold-faced wind blows open desolation
The crumbs I’d brought in old days in tears
to mark the return’s way
The time’s squirrel ate them all
How could I find my return

In the fields of life
I’ve given and received love and others
Fully, adequately
But where is my country

Lying, I listened to night’s breath
April opened her eyes in the night
Oh dear, she was crying--
tears blackened
And myself cried too, I heard
The choked cry of black April.
April 2019
----
Nguyên tác
Đêm Tháng Tư
Anh ạ, giữa đêm em chợt thức
thấy mình ngã sấp vào Tháng Tư
em và Tháng Tư cùng thương tích
xoa mãi cho nhau những vết bầm
em đi không biết bao nhiêu dặm
hơn bốn mươi năm nhật nguyệt xoay
chân quen hơi cỏ lòng vẫn lạ
vẫn gió thổi qua hồn hoang vu
mẩu bánh ngày nào em đánh dấu
dọc đường nước mắt lúc xa quê
con sóc thời gian ăn hết cả
làm sao em tìm được lối về
trên những cánh đồng nhân gian đó
em vừa cho vừa nhận yêu thương
lượng Trời rót xuống đầy tay nhỏ
vẫn thấy mình thiếu một quê hương
Em nằm im lặng nghe đêm thở
Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm
Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc
Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen
Em nằm im lặng nghe em khóc
tiếng khóc câm trong Tháng Tư đen.
Trần Mộng Tú
Tháng Tư-2019

Giải Thích...

Học Vật lý ở đại học người ta được dạy rằng: Ánh sáng có hai bản chất : sóng ( wave) và hạt ( particle). Ngoài vẻ đẹp rực rỡ, sáng chói, Ánh sáng còn vẻ đẹp tuyệt của quang phổ; mang lại sự diễm lệ cho cầu vồng, mang những “tự tính” như phản chiếu, khúc xạ, nhiễu xạ v.v., Ánh sáng còn có bản chất vô cùng kỳ lạ, bản chất của một Bí nhiệm rất “bí nhiệm” [ vì quá kỳ diệu, bí ẩn, biến ảo khó hiểu], lạ lùng cùng tột, làm ngay những nhả Vật lý giỏi về Cơ học Lượng tử ( Quantum mechanics) cũng có những điều không hiểu/không lý giải được về Bản chất đôi (dual nature) của “Nó” là sóng và hạt như nói trên. Đó là điều thỉnh thoảng cứ “đến thăm” tôi , cười cười hỏi : “Nghĩ ra chưa ?” gần 35 năm qua.
Cách đây khoảng 30 năm , tôi có đọc được một bài viết của một nhà báo viết về chuyện khoa học cho một tờ báo lớn, ông đưa ra một thí dụ hay để ví tính chất đôi như trên của Ánh sáng như sau :
Ông ví ánh sáng như một “tên trộm” đói đi ăn trộm thực phẩm. Nhà chủ sau vài lần mất thức ăn mỗi đêm, lấy làm lạ, nên muốn biết tên trôm đó là con vật gì : chó hay mèo, bởi lẽ dọn món nào ra thì cũng biến hết , mà thường thì chó chỉ thích ăn đồ ăn cho chó , mèo chỉ thích đồ ăn cho mèo. Vì vậy nhà chủ muốn quan sát tìm hiểu , nên ông ghi chép. Ông thay đổi thức ăn mỗi đêm một lần , rồi hai đêm , ba đêm một lần. Và chỉ hai loại: hoặc cho chó , hoặc cho mèo; con này thích thì con kia chê. Mà tất cả đều bị nuốt ráo. Dọn đồ cho chó ăn cũng hết, đêm sau , dọn thức cho mèo ăn thì cũng hết. Cuối cùng ông không biết con vật là gì. Bản chất của ánh sáng như thế đấy, nhà báo ví von.
Sau này đọc các khảo cứu Vật lý thêm, tôi nghe các nhà Vật lý giải thích thêm về trường hợp của bản chất Ánh sáng và một vài hạt cơ bản khác ( nuclear particles) là việc thay đổi cơ cấu xét nghiệm [ experiment apparatus, hay lạ lùng hơn là “the observer effect] sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm. Lạ lùng chưa. Mà đúng vậy thật. Khi các nhà v/lý Christiann Huyghens, Thomas Young , Louis de Broglie, Erwin Schrodinger xác lập được tính cách sóng, nhưng vẫn có những điều chưa thỏa đáng của Ánh sáng, thì sau thí nghiệm của Heinrich Hertz, A. Einstein qua lý luận trong “photoelectric effect” sau khi tham khảo tiến trình tìm hiểu “phóng xạ của các vật thể đen” ( black-body radiation) của Max Planck, và xác định của R. Millikan, bản chất Hạt của ánh sáng đươc thiết lập. Nói gọn là : bản chất sóng hay hạt của ánh sáng được thiết lập khi các dụng cụ, cách thức ghi ký , đo lường, và tiêu chuẩn kiểm nghiệm của apparatus [ cách thức , kiểu mẫu dàn dựng, xếp đặt dụng cụ thí nghiệm và các điều kiện and ‘observer’] được thiết lập như thế nào thì kết quả đạt được ngả về phía đó , hay nói như nhà báo : cho đồ ăn của chó, thì thấy con vật là chó tới ăn, khi đem ra thức ăn cho mèo thì thấy mèo tới ăn. Vì vậy các nhà khoa học , những nhà Lượng tử học nói rằng Ánh sáng mang bản chất đôi. Sau này có những thí nghiệm được lập lại , ví dụ để xem bản chất các photon , hay photon đơn qua cách dàn dựng thí nghiệm như của Hamamatsu Photonics, tức củng dùng cùng một loại dàn dựng, bố trí để xem tính chất hạt hay sóng của photon kiểu thí nghiệm của T. Young. Họ đạt được kết quả : cả sóng và hạt, vì thí nghiệm năm 1982 của họ chi tiết, nhiều máy móc ghi đo hơn (1). Đáng lý , họ chỉ thấy là sóng (2). Hoặc nếu lập lại các thí nghiệm mà electron hay các free carriers được “đá” , phóng ra từ các mặt kim loại thì sẽ thấy chúng là hạt.
1. Tương tác, liên hệ giữa Tâm thức và Sự vật, Vạn vật
Tâm chúng ta, hay nói rõ hơn thân và tâm ( thân-tâm) tương tác, liên hệ với sự vật, vạn vật 24 giờ một ngày, 365 ngày một năm, cho đến khi đi về thế giới bên kia. Các loại thức , tám thứ thức và tâm vương , tâm sở đan xen, chồng chéo, tương tác , liên hệ, liên tục thay đổi nhau biến hiện; vì thế trong cõi này có phút lóe sáng của thiên tài, tài hoa, có lúc lu mờ u mê; lúc mênh mông biển rộng, bát ngát gió bao la, lúc như rạch ngòi nhỏ nhoi, tù túng như hang nhỏ; lúc sâu lắng tịch tĩnh, lúc ồn ào nông nổi, lúc tham thiền khinh an, khi bắng nhắng ngược xuôi. Lúc cuồng điên rồ dại si mê, khi tỉnh thức, sáng suốt; lúc sân si hẹp hòi, khi bao dung độ lượng; thường bị Vô minh che lấp, nhưng cũng có những khi Tỉnh thức, giác ngộ, tinh minh v.v. Tóm lại, tất cả đều thay đổi, biến đổi, biến hóa , nhanh hay chậm thôi; nhanh có khi như trong một sát na, một giây, chậm có khi là 1ngày, 1 tháng, 10 năm. Đó, Vô thường đó. Chính “Tự Tính” thay đổi này có khi vạch ra những bí mật kỳ thù, lạ lùng vô hạn cho chúng ta nhận thức, quan chiêm. Bây giờ chỉ xin nói tới 6 thí dụ về sự thay đổi này, mà ai trong chúng ta cũng có thể biết:
a. Cảm nhận thay đổi khi đọc một bài thơ, bài văn, tác phẩm một thời gian sau
b. Một số mâu thuẫn nội tại. Có những lúc ta thấy vừa yêu vừa ghét một sự kiện, một người
c. Có vài ba “nhân vật chính trị hay xã hội” vài năm đầu ta cực chống đối và ghét, sau khám phá ra những điều có thể thông cảm, thậm chí đồng tình, nên bớt ghét, có lúc có thể tán thưởng một số hành động
d. Thân-tâm thức thay đổi biến hóa ngắn dài. Thí dụ: Cảm giác mệt mỏi làm thị giác , thính, khứu giác cũng lu mờ; vài giờ sau khi có được một giấc ngủ tốt, thần thái như trăng rằm, nghe , nhìn , ngửi đều rất tinh nhanh. Khi bệnh hoạn vài tuần, vài tháng, cảm giác thân thể, cảm nhận các phút buồn ,vui, cáu giận, khoan khoái, tri thức các vấn đề nghĩ suy lúc nhanh lúc chậm, lúc sáng, lúc tối.
e. Thay dổi nhận thức trong cõi tư tưởng, tư duy trong triết lý , trong cõi trừu tượng, xa xăm
f. Ví dụ hôm nay tôi nấu cỗ, tôi sắp múc món miến gà ra bát để dâng lên bàn thờ : vì có những điều “cần làm” nên tôi có phần vội vã, nhưng vì tập thiền nên tôi nhớ có nhiều khi mình phải chậm lại, vì lòng thương yêu, trân trọng với người thân tôi tự muốn bảo mình cần múc miến ra chậm rãi, trân trọng; và thấy cũng chẳng cần phải vội lắm vì những việc bận kia. Tiếp theo, các niệm về Hiếu thảo, Tôn kính càng làm tôi múc miến cẩn thận và chậm rãi hơn nữa và để lên bàn thờ. Chỉ trong một phút thôi, tôi thấy nhiều chuyển biến, thay đổi trong tâm thức rồi; nhiều niệm luân phiên đến đi, đan xuyến, giao nối với nhau làm quan sát tiến trình lý thú hơn; và nếu “lucky” có thể có một “tia sáng” nào đó chớp ra
2. Như Ảo, Như Thật, Như thật, Như Mộng, Biến Ảo
Bạn có bao giờ “nói chuyện” hay muốn biết trái tim mình nó đang đập, đang chuyển máu, nhận máu như thế nào chưa ? Hay chỉ đến khi già yếu, có bệnh tim mạch sao đó, chúng ta mới để ý “nhiều hơn” đến nó ? Với gan , với phỗi, thận v.v. cũng thế. Ấy là một tình huống không thể khác của con người – the human condition, human predicament (la condition humaine, situation humaine). Thường với đại đa số chúng ta, khi muốn biết chúng sẽ xem hình vẽ, đọc sách về nó, hoặc tiến bộ như ngày nay thì lên youtube coi hoạt động chính yếu của nó ra sao. Nhiều lắm , nếu bị atherosclerosis hay blood clots có ảnh hưởng tới mình, thì coi nhiều video clips hơn. Chính yếu là vì ta không thể “móc tim ra xem khi cần”; [ và dù có dụng cụ mổ xẻ, lấy ra— cũng không thể làm được ] mà chỉ biết gián tiếp qua máy móc, MRI hay EKG. Từ đó hầu hết chúng ta chỉ muốn biết những gì căn bản nhất trên sách vở về tim mình, hoặc khi nó “thổn thức” vì ai đó thì đưa tay lên vỗ về , vuốt ve ngoài ngực; hoặc vì điều gì đó, ví dụ như quê cha đất tổ đổ nát điêu linh thì có khi lắng nghe nhịp đập của nó. Thế thôi, rất nhiều, quá nhiều điều có khi cần biết về tim mình, phổi , gan, thận mình, tình trạng của chúng , nhưng vì nhiều lý do chúng ta không thể, trong đó-- khi trẻ thì là mưu sinh, xây dựng mộng ước, tương lai v.v. Các bạn nghĩ sao về chuyện : có sự, có việc gì đó mà ta chỉ có những hiểu biết căn bản, tối thiểu, ít ỏi về nó { và với đại chúng thì cũng chẳng cần phải hiểu thêm cho đến khi bệnh}. Nói theo một nhận định đúng đắn, mang nhiều tính khoa học, hoặc trên một tinh thần (rất ) gần với Phật giáo { diễn tả điều này trong Phật giáo : cần có tương tác thật tốt giữa tâm và vật để có một cảnh thật rõ, đó cũng có nghĩa là chỉ có hiểu biết chân xác, chính xác mới đúng/đáng gọi là hiểu biết } thì đó chẳng khác với “không hiểu”, hiểu quá mù mờ, cái hiểu đầy sương mù, có khi còn có những điều sai. Hiểu như vậy, có khác gì như không hiểu, như vậy sự hiểu ấy mang đầy ảo tưởng, hoặc Hiểu hay Biết như Thật , như Ảo, Thật ít, Ảo nhiều, chưa thể gọi là nửa thật, nửa ảo nữa. Còn nhiều thứ khác trong cuộc sống chúng ta, chúng ta sống giữa cõi ảo, hay mộng xen lẫn với cõi thật hay “thật”. Triết học/triết lý (3) gọi đây là tình trạng Thực Ảo bất minh. Và nhiều người gọi nhiều cảnh sống trong đời họ , hay trong đời bạn bè, người quen biết, kẻ chung quanh là sống trong Mộng-Thực bất phân. { Ý kiến riêng : nhưng nó cũng có những cái ý vị, lý thú riêng của nó}
Trở lại, cho đến khi quá trễ, như khi ung thư và các bệnh về phổi gan, thận v.v. xảy ra thì đã quá muộn. Nhưng cũng không thể trách chúng ta. Vì chúng ta đều nằm trong tình huống bất khả chuyển đổi, không thể làm gì khác hơn. Chúng ta lúc trẻ thì đều phải lo mưu sinh, lo cho cuộc sống mình và gia đình đầy đủ , tươm tất hay cho sự nghiệp của mình được tốt đẹp hay rực rỡ để báo đáp cho cha mẹ, ông bà, giúp ích cho xã hội. Miễn là đừng quá tham , quá nhiều ham muốn, tham vọng, ảo vọng, . Nhưng cũng đến một lúc chúng ta cần hay nên dừng chuyện ấy, để nhận chân ra những tham/ảo vọng , những gì nên bỏ trong cõi ảo— cũng mênh mông lớn rộng như cõi thật— để Chuyển Hóa. Đây là chỗ nhà Phật có thể giúp chúng ta nhiều.
Ngoài chuyện tim, gan, phổi, còn có một xúc tiếp rất hay có thể giúp ta nghĩ suy, tư lưong, tư lượng về chuyện Thật-Ảo. Đó là chuyện ảnh trong gương lõm, gương lồi trong quang học. Mỗi ngày chúng ta đều soi gương chải tóc, đánh răng , soi mặt ; ảnh trong đó các nhà quang học gọi là ảnh ảo (virtual image). Nhưng chúng vẽ ra những gì “rất” thật cho diện mục, diện mạo chúng ta. Thế thì chúng ta nên nghĩ sao ? Phải chăng cái mà những nhà quang học gọi là ảnh ảo, chỉ là để đối lại với cái gọi là ảnh thật với gương lồi ( real image with concave lens), nhưng thực tế về chúng là gì ?
Thêm nữa, chắc chúng ta đã từng thấy nhiều sự vật, sự việc biến hóa khôn lường, đang từ một hình thái, trường hợp, chúng có thể quay phắt 180 độ để trở thành một cái khác hoàn toàn (4) như sâu hóa bướm, nòng nọc có thể biến thành ếch hay không, như lên xuống trong thị trường chứng khoán, trong bong bong nhà đất ( housing bubble) từ 2005-2009 ở Mỹ v.v. Đó là những hiện tượng biến đổi quá sức tưởng tượng, khôn lường nên chúng ta hay gọi là biến ảo. Điều này rất thường xảy ra trong cõi Vật lý năng lượng cao (high-energy physics)
3. Sự Kỳ Diệu, Biến hóa, Lạ lùng trong giao tiếp giữa Tâm thức và Vạn vật qua quán sát, nghĩ suy, quán chiếu cẩn thận, kỹ lường nhiều năm có thể mang lại những thay đổi Thay đổi Sâu sắc, Lớn lao trong cách nhìn đời sống, trần gian muôn màu này, Tây phương hay gọi là world view, tức là thể nghiệm mang tính cách triết lý về đời sống,về trần gian như thật, như mộng như kinh Kim Cang nói:
“ như mộng , huyễn , bào, ảnh…”
mà thật ra nói như thật như mộng là đã đơn giản và tóm gọn vấn đề đi nhiều, như nhiều tính toán trong Vật lý đã đơn giản hóa, lý tưởng hóa các bài toán rất nhiều để giải, trong khi thực tế nó đa đoan, phức tạp hơn nhiều.
Như người đi trên đường phẳng , trong nắng nóng nung, thấy Mirage, thấy Ảo ảnh nước, nhiều khi chúng ta hiện hữu và sinh sống trong Hợp-phức-thể của Thực và Ảo một cách giản đơn, lý thú, lạ lẫm và có lúc bay lên, ít nhất là trong Thăng hoa Tư tưởng, để chạm trời biếc, mây trắng và sao xa.
Các luận sư , nhất là trong Không tông, về Chân Không, Tánh Không trong Phật giáo Đại thừa hiểu rõ về tính cách như thật , như mộng, huyễn khởi, huyễn dụ, huyền nhiệm, phi khứ phi lai, biệt tăm phi tích này nên các ngài thường Im lặng; ngồi như ngủ , mà không ngủ
Bồ tát tuyệt vời Long Thọ thì nói :
Như quáng nắng, như giấc mộng, như thành phố giữa sa mạc: tất cả các sự hiện khởi, tồn tục và biến mất đều như vậy.
(Yathà màya tathà svapno gandharva-nagaram yathà;
tathotspàda tathà sthànam tathà bhanga udàhritam )
Addendum:
Chung quanh ta có những sự vật tưởng chừng như đơn giản, thí dụ, những chiếc lá trên cây đang đong đưa nhẹ nhàng trong gió thoảng; thí dụ sáng Xuân chim hót bên vườn. Nhưng nếu quan sát, quán chiếu, tư duy tường tận thì chúng phức tạp hơn chúng ta nghĩ không ít, hoặc nhiều. Và qua những quan sát, quán chiếu đó, chúng ta có thể bắt gặp, khám phá ra những điều mới lạ, rất lý thú để có thể nghĩ về, suy ra, liên tưởng tới mấy điều có liên quan tới Chân Như và Pháp giới.

Notes
(1) Rõ ràng là hãng Hamamatsu Photonics đã set up nhiều dụng cụ hơn T. Young vào năm 1801. Từ đó có khi thấy cả tính chất Hạt của ánh sáng.
(2) a. Điều lạ lùng là phát biểu của người làm thí nghiệm trong Hamamatsu P. : Mỗi một (the single photons) đi qua khe đôi (double slits) cùng lúc . Nếu quả như thế thì điều đó xác nhận tính cách sóng (wave) của photon, cũng như xác định khi apparatus của người làm thí nghiệm muốn “thấy” nó là sóng thì sẽ thấy sóng.
b. Từ phút 8:17 trở đi khi nói về interference của các single photons, diễn giả đã diễn giải lúng túng và kỳ quặc : khi thì như nói về nhiễu hưởng (interference) của Một photon (a single photon) khi thì nói các individual photons. Không giải thích được tại sao không có mẫu nhiễu hưởng ( interference pattern) ; và tại sao chúng lại tự nhiễu hưởng được[ từng photon với chính nó]
c . Thí nghiệm của W. Rueckner & J. Peidle từ đ/h Harvard cho thấy rõ , nếu chỉ cho photoelectrons đi qua 1 khe đơn ( single slit ) thì không xảy ra nhiễu hưởng.

https://sciencedemonstrations.fas.harvard.edu/files/science-demonstrations/files/single_photon_paper.pdf
Đó cũng có nghĩa là nếu không set up apparatus của thí nghiệm để thấy bản chất sóng, mà set up để thấy hạt thì sẽ thấy hạt. Kết quả photoelectrons đi qua single slit cũng mang lại kết luận ánh sáng có bản chất hạt như thí nghiệm thời Einstein khi thấy photoelectron bị đá ra
từ các mặt kim loại.
(3) Có một môn học gọi là Fuzzy Logic ( Luận lý Mờ Sương) do nhà toán học Lofti Zadeh phát kiến khởi lập trong đó giá trị của một sự kiện hay tính toán có nhiều từng bậc (many values) với các điều kiện khác nhau. Đìều này cũng có thể suy diễn rộng hơn nhiều sự vật, sự việc có nhiều mức độ sáng tối, mờ tỏ khác nhau, tùy thời, tùy trường hợp. Nó khiến chúng ta có thể quảng diễn một cách triết học/triết lý là Thực-Ảo bất minh.
(4) Một số loại mãng cầu, thí dụ mãng cầu Atemoya, đổi giống từ cái sang đực trong vòng dưới 1 ngày
April 2019
----

REF

https://www.youtube.com/watch?v=RlPvzn5sG30&fbclid=IwAR0UagJ1lPqNQJNJmCzCttL2QG1BTQMwn8xYIrO4CVXAbDByvg1lj--vXV0

https://en.wikipedia.org/wiki/Wave–particle_duality?fbclid=IwAR1OAyHnQWIeNJFMXR0bPZgV_7Q_RyIGAlVpz0KpUw3H5GC8WQ_-rN0xlxQ